phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục có 3 chương với 6 tiết. »* Chương | CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VA HOAT ĐỘNG CUA UY BAN NHÂN DÂN XÃ Để dánh giá và xác định đúng nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Uy ban nhân dân xã trong bộ máy Nhà nước. trước hết phải xuất phát từ bản chất, nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của bản thân bộ máy Nhà nước, tức là phải dat Uy ban nhân xã trong hệ thống các cơ quan của bộ máy Nhà nước, sau đó mới nghiên cứu. phân tích sâu những vấn đề cụ thể.
đặc thù của Uv ban nhân dân xã như nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy, nhân sự vận hành bộ máy. Vấn dé cơ ban, quyết định việc xác định vi trí, vai trò của Uy ban nhân dân xã trong hệ thông các cơ quan của bộ máy Nhà nước chính là tính đặc thù của ban than Uy ban nhân dân xã trong bộ máy Nhà nước. Theo quy định tại Điều 123 Hiến pháp năm 1992 thì Uy ban nhân dân “là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương”. Như vậy, Uỷ ban nhân dân xã đồng thời phải chịu hai mối quan hệ phụ thuộc.
Một là, với cơ quan quyền lực bầu ra mình; hai là, với cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên. | Dé giải quyết những vấn đề co bản này, phải trên co sở phân tích những vấn đề lý luận về bộ máy Nhà nước, về nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước. Đồng thời phải giải quyết những yêu cầu do thực tiễn tổ chức, hoạt động cua Uy ban nhân dan xã đặt ra. Bởi vậy, nghiên cứu vi trí, vai trò của Uy ban nhân dan xã thực chất là nghiền cứu vấn đề chức năng, thẩm quyền, tổ chức và hoạt động của Uy ban nhân dân xã va mối quan hệ của nó với các cơ quan Nhà nước khác trong bộ may.
Vị trí, vai trò và chức năng của Uy ban nhân dân xã. Địa vị pháp lý của Uy ban nhán dan xã trong bộ máy Nha Hước. Ở nước ta, Nhà nước được tổ chức theo nguyên tac “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2, Hiến pháp năm 1992). Bộ máy Nhà nước bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.
Trong đó cơ quan hành pháp (thường gọi là cơ quan chấp nành) và là ea hành chính. được tổ chức thành một hệ thống thống nhất từ trung ương tới cơ so. Theo Hiến pháp năm 1992, hệ thống các cơ quan hành chính của Nhà nước được chia thành 4 cấp quản lý theo lãnh thổ hành chính. Ở Trung ương có Chính phủ và các Bộ cùng các cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ.
Ở địa phương (bao gồm 3 cấp), có: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Uy ban nhân dân huyện, quận, thi xã, thành hố thuộc tỉnh; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các Sở, phòng, tộ phận trực thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp tương ứng. Các cơ quan nói trên có chức năng tổ chức chấp hành pháp luật và _ cic Nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (đối vdi"Uy ban rhân dân các cấp), thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với xã hội. Việc tổ chức các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chức ning quản lý xã hội, có những đặc trưng: 13 Một là, cơ quan hành chính Nhà nước được thành lập theo Hiến pháp hoặc theo Nghị định, quyết định, có thẩm quyền sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức và điều chỉnh mọi quá trình xã hội và hành vi hoạt động của mọi công dân theo pháp luật trên tất cả các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Hai là, cơ quan hành chính Nhà nước có quyền ra các văn bản pháp quy để thực hiện Hiến pháp, luật, pháp lệnh và Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân địa phương (đối với cơ quan hành chính địa phương); sử dụng pháp luật và các văn bản pháp quy để chỉ đạo, điều hành các hoạt động của các ngành, các cấp, các đơn vị thuộc thẩm quyền mình.
Ba là, cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc giải thể các cơ quan trực thuộc trong hệ thống theo luật định, tổ chức điều chinh các quan hệ quản lý và đối tượng quản lý. Về thầm quyền của các cơ quan hành chính Nhà nước được phân chia thành hai loại: - Cơ quan có thẩm quyền chung. Đó là một tập thể lãnh dao do dân bầu ra (thông qua Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân), có chức năng quản lý Nhà nước tổng hợp trên phạm vi cả nước hoặc lãnh thổ nhất định, theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp). v - Cơ quan có thẩm quyền riêng.
Đó là các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước chuyén ngành hoặc lĩnh vực nhất định, theo nguyên tắc một thủ trưởng, chịu trách nhiệm cá nhân và do Nhà nước bổ nhiệm (như các Bộ, Sở. O nước ta, do ảnh hưởng và bị chi phối bởi các yếu tố địa lý, ki tế, chính tri cũng như truyền thống văn hoá, phong tục tập quán ne trong lich sử cơ quan quan lý làng xã ở nông thôn được tổ chức khôi giống như các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước. Cho mãi đến thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, c quan quản lý làng xã (chủ yếu là làng xã người Việt) vẫn được tổ chi. và vận hành theo chế độ “tự quản”.
Chế độ “tự quản” ra đời từ cuối tl ky XV, sau khi Nhà nước phong kiến thời Lê bãi bỏ chế độ “xd quan” tức viên chức do Nhà nước trung ương điều động, bổ nhiệm va trả luor để cai trị làng xã. Chế độ “tự quản” cho phép cơ quan quản lý làng xã tự đứng 1 điều hành các công việc nội bộ của địa phương, đồng thời phải có trác nhiệm đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước trung ương như về thu khoá, quân dịch, tạp dịch v. Tất cả các công việc đối nội (trong phạm vi làng xã) và đối ngo: giữa xã này với xã khác, hoặc giữa xã với giới cam quyền cấp trên) dé được giao cho một số người đang sinh sống tai làng xã, hoặc có té trong số định của làng xã ban bạc, quyết định. Số người này được gc chung là quan viên hàng xã [17; tr.
Mặt khác, do cách tổ chức chính quyền ở các cấp hành chính khá nhau cũng tạo cho Uy ban nhân dân xã có những nét riêng biệt so với U, ban nhân dân các cấp huyện, tỉnh. Nhìn chung, ở các đơn vị hành chín trong chính quyền đều có hai cơ quan: cơ quan hành chính và cơ qua: đại diện. Song vai trò của chúng ở từng loại đơn vị hành chính lại khá nhau. Đối với các đơn vị hành chính trung gian thì chức năng chủ yế của chính quyền là bảo đảm mối liên hệ giữa trung ương va cơ sở.
N: phải dé cao lợi ích của trung ương cho nên cơ quan hành chính thườn, 15 do. cấp trên bố nhiệm và phê chuẩn. Ngược lại, đối với các don vị hành chính cơ sở, chúng được hình thành trên nền tảng những địa điểm quần cư. Đặc điểm của các đơn vị này là nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất.
Moi vấn dé của địa phương đều liên quan chặt chế với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hoà các lợi ích: Nhà nước, dan cư và giữa dân cư với nhau. Chính quyền ở đây không phải và không chỉ là cơ quan cai trị mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư. Nói cách khác, nếu như cơ quan Nhà nước ở các đơn vị hành chính trung gian có nhiệm vụ bảo đảm triển khai pháp luật, chính sách của Nhà nước trung ương tới cơ sở, thì cơ quan Nhà nước ở đơn vị hành chính cơ sở ngoài việc bảo đảm thi hành pháp luật của Nhà nước, các mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước cấp trên thì cần thiết phải thể hiện lợi ích của dân cư nhiều hơn. Khi dé cập đến vấn dé này trong các tác phẩm “Sự phát triển chủ nghĩa Tư bản ở nước Nga”, “Nhận xét phê phán về vấn dé dân tộc”, “Luận cương về vấn dé dân tộc”, V.
Lénin đã chỉ ra rằng: cơ cấu - lãnh thổ mới của nước Nga cần phải được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc kinh tế và nguyên tắc dân tộc. Sau này, tại Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Nga (b) năm 1923 thêm một nguyên tắc nữa được nêu ra: Nguyén tắc bộ máy Nhà nước gần gũi với dan cư. + Ở nước ta, các nguyên tắc nêu trên cũng đã được vận dụng trong việc tổ chức chính quyền địa phương. Xét về mặt cơ cấu, hệ thống đơn vị hành chính cũng giống như một số nước Xã hội chủ nghĩa khác là tổ chức theo cấp, bậc.
Phổ biến là cơ cấu chính quyền 3 cấp: Tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) - Huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) - Xã (phường, thị trấn) /9; rr. Từ sau cách mang tháng Tám năm 1945, chính quyền cơ sở Ở. nước ta nhất là ở xã còn là nơi thể hiện rõ nét nhất bản chất ưu việt của 16 chế độ, của Nhà nước, nơi người dân thực hiện quyền làm chủ của mình: đối với mọi công việc của đất nước. Lénin viết: “Phải khẳng định rằng, thành quả của cuộc cách mạng mà chúng ta đạt được ngày hôm nay chính là vì chúng ta luôn chú ý tới một vấn đề quan trọng bậc nhất.
đó là chính quyền ở cơ sở, kinh nghiệm của chính cơ sở. Và cũng từ cơ sở mà chúng ta có được sự lạc quan, sự nhanh nhạy và quyết đoán trong hành động cách mạng” /27; tr. Là cấp cơ sở gần dân, do dân trực tiếp bầu, tổ chức ra, Uỷ ban nhân dân xã là cầu nôi chuyển tải mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vấn đề càng quan trọng và cấp bách ở chỗ xã là cấp trực tiếp quản ly trên 80% dân số của cả nước, trải đài trên diện tích rộng từ Bắc tới Nam, từ miền núi tới đồng bằng, hải đảo nên hiệu lực quản lý của cấp chính quyền này góp phần quyết định tới sự thành công hay thất bại của mọi chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên.