Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIÊN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM THẤM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU KIÊN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Cơ chế quyền lực nhà nước và vai trò của tòa án Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính, giải quyết các vụ án hành chính là một nội dung vô cùng quan trọng trong tổ chức và hoạt động tài phán, liêh quan đến quản lý hành chính nhà nước, đến phân công tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đến quyền, tự do và lợi ích của công dân. Ngay từ thời cổ xưa, loài người - thông qua các học giả, các nhà thông thái.
- đã từng ước mong tạo dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do và an toàn cho mọi thành viên trong cộng đồng, trong xã hội. Với những ước vọng chân chính và cao đẹp đó, bằng trí thông minh và những tư tưởng tiến bộ, chính họ đã đưa ra nhiều sáng kiến, nhiều học thuyết luận giải cho việc đưa ra các biện pháp, các giải pháp bảo đảm xây dựng một xã hội lý tưởng trên đây. Một trong những bảo đảm có tính cách thiết yếu cho trật tự xã hội đó là phải xây dựng một nhà nước pháp quyền gắn liền với xã hội công đân. Một nhà nước mà trong đó bộ máy quyền lực của nó được hình thành trên cơ sở của luật, hoạt động của bộ máy nhà nước phải tôn trọng tính tối cao của luật.
Sự ngự trị và sức mạnh: của luật còn là cơ sở cho việc phân công, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, xác định ranh giới, phan. vi quyền lực của các thiết chế nhà nước và sự tự do của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Nhà tư tưởng cổ đại Heracles đã nói: Nhân dân hãy đấu tranh bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình. Như vậy, ngay từ thời cổ đại, giá trị của pháp luật đã đạt đến đỉnh cao trong các nấc thang giá trị của xã hội loài người.
Cùng với 12 mhà nước, pháp luật không chi là công cụ tác động, thước đo đánh giá tính chất, mội dang các quan hệ xã hội mà còn là thước đo giá trị tích cực của tổ chức thoạt lộng của bộ máy nhà nước. Tư tưởng về xây dựng một nha nước pháp quyền được hình thành va phát triển là nhằm chống lại nhà nước quân chủ (chuyèn chế, chống lại sự độc đoán chuyên quyền của vua chúa và các giai cấp tthống trị và nằm trong trào lưu chung của hệ tư tưởng giải phóng loài người. Pháp luật chính là sự bảo đảm cho tự do và công lý. Xôcrat (463 - 399 ‘TCN) cho rằng: Muốn có công lý phải có pháp luật và sự tuân thủ pháp luật.
“Từ quan niệm như vay làm nảy sinh vấn đề là phải xây dựng các thiết chế làm ra luật, các thiết chế duy trì và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, bảo vệ pháp luật. Một trong những nội dung rất cơ bản của thiết chế đó là phải tổ chức và hoạt động xét xử. Platon (427 - 374 TCN) quan niệm rằng: Hoạt động xét xử là để bảo vệ pháp luật. Nếu không có cơ quan xét xử, nếu tòa án không được tổ chức một cách thỏa đáng thì nhà nước sẽ sụp đổ.
Ông đưa ra quan điểm nổi tiếng: “Ta nhìn thấy sự hủy diệt của các nhà nước mà trong đó pháp luật Không có sức mạnh và dưới quyền lực của ai đấy”. Sự thừa nhận quyền thống trị của luật cùng với các thiết chế bảo dam sự thống trị đó là những định đề cơ bản, quan trọng cho việc xem xét tính hợp lý trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Chúng có ý nghĩa xem xét và xác định ranh giới, thẩm quyền và quyền han của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Với tư cách là tổ chức quyền lực công cộng, là trung tâm tác động, điều chỉnh đến các quá trình xã hội va tự do của con người, nhà nước vì vậy luôn có mối liên hệ mật thiết với các thành viên trong cộng đồng xã hội, với & a các công dân.
Mot lần nữa, sự thừa nhận quyền lực của luật trong tổ chức hoạt động của nhà nước, một nhà nước pháp quyền là cứu cánh của dan chủ, là sự bảo đảm cao nhất về tự do của con người. Những quan niệm có tính định dé và lý tưởng trên đây tuy đơn giản, "mộc mạc” nhưng cố ý nghĩa đặc biệt quan trọng khởi nguồn cho quá trình hình thành và phát triển kho tàng lý luận của nhân loại về nhà nước pháp quyền nói chung và lý luận về hoạt động xét xử của các cơ quan tài phán nhà nước nói riêng trong đó có tài phán hành chính và thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án. Kế tục và phát triển các quan niệm trên, đặc biệt là các quan niệm liên quan đến phân công, tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đến sự phân lập các quyền của quyền lực nhà nước, các học thuyết chính trị, pháp lý thời kỳ cách mạng tư sản đã nâng chúng lên một trình độ mới, cao hơn và ảnh hưởng lớn lao đến thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước, đến phân quyền trong nhà nước tư sản. Nếu trong thời cổ đại, Arixtot (384 - 322 TCN) từng đòi chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lập pháp chỉ thực hiện chức năng ban hành luật, hành pháp thì tổ chức thực hiện và đảm bao thi hành luật, tư pháp chỉ thực hiện chức năng xét xử theo quy định của luật. Theo ông, ba bộ phận này tạo nên cơ sở của mọi nhà nước. Từ quan niệm: như vậy sau này các học giả tư sản mà đáng chú ý nhất là Montesquieu đã nâng thành học thuyết tam quyền phân lập, học thuyết cơ bản tạo cơ sở lý luận chủ yếu cho việc thiết lập bộ máy nhà nước tư sản trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp. Theo Montesquieu, quyền lực nhà nước cần phải chia thành ba bộ phận độc lập với nhau, không nên tập trung vào một cá nhân, một cơ quan.
Ông cho rằng: Cũng khong có gi là tự do nếu quyền tư phấp không tách chổi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Néu quyền tư pháp nhận với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đeán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tò: sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lai với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ dan ấp [43, tr. 14 Để có một nhà nước pháp quyền theo quan niệm phân lập các quyền của qiyền lực nhà nước tư sản, cũng như các cơ quan nhà nước khác, cơ quan tư phep, tòa án phải có vi trí xứng đáng, phải được tổ chức sao cho có tính độc lập tham gia vào cơ chế đối trọng và chế ước, kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận.
các nhánh quyền lực nhà nước. Từ đó mà bảo vệ chế độ dân chủ, bảo đảm :ự do cho các công dân phù hợp với ý chí của giai cấp tu sản và trong khuôa khổ pháp luật của nó. Cũng như các cơ quan nhà nước khác, tòa án nếu không được tổ chức thỏa đáng sẽ trở thành nguy cơ cho quốc gia và tự do của công dân. Một bộ máy nhà nước, một "co quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật, vừa tự cho minh là kẻ lập pháp.
Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dan theo ý muốn của họ” [43, tr. Như vậy, tòa án với tổ chức và hoạt động, với thẩm quyền và chức năng xét xử của nó là không thể hòa nhập, trộn lẫn với các cơ quan nhà nước khác, nó phai được tách bạch, phải được độc lập. Tổ chức và hoạt động của tòa án theo quan niệm nhà nước pháp quyền tư sản là cơ chế bảo vệ pháp luật quan trọng nhất, bảo vệ công lý và là người trọng tài vô tư, khách quan để đánh giá các vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp.
Đối tượng xét xử của toa án không chỉ là nành vi của con người, của công dân mà còn cả hoạt động của nhà nước, của công quyền. Đây cũng là điểm thể hiện rõ nét tính đối trọng giữa tư phán và các cuyền khác: lập pháp và hành pháp, là diérn thể hiện rõ nét tính độc lap của tòa un, của tư pháp với lập pháp và hành pháp. Tuy nhiên, trong thực tiến tổ chức bộ máy nhà nước của các nước tư sản là không giống nhau. Tùy vào điều kiện, đặc điểm truyền thống pháp lý và so sánh lực lượng chính tri.
của từng quốc gia mà người ta thiết lập bộ may nhà nước tương ứng. Do vậy, hệ thống thẩm quyền của bộ máy xét xử của các nước cũng có sự khác nhau. Nhìn chung, hầu hết các nước tư sản khi thiết lập cơ quan tư pháp, cũng như các cơ quan nhà nước khác (lập pháp, hành pháp) đều giống nhau ở việc tôn trọng, tuân thủ nguyên tắc phân lập các quyền. Do vậy, trong tổ chức và hoạt động, các cơ quan tư pháp phải dựa vào một số nguyên tắc cơ bản như: a) Tư pháp không được can thiệp vào hoạt động hoặc làm can trở hoạt động hành pháp Biểu hiện tập trung của quyền tư pháp là thực hiện chức năng xét xử của các cơ quan tài phán, của tòa án.
Tòa án có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính. hoạt động xét xử này không chỉ dựa vào luật tư để phán quyết về tội phạm, hình phạt, để giải quyết các tranh chấp dân sự, lao động. mà còn dựa vào luật công để xem xét tính hợp pháp của công quyền, tức là xem xét các hoạt động của các cơ quan nhà nước và của cán bộ, công chức có hợp pháp hay không, có gây hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan. Sự phán xét của tòa án về tính hợp pháp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước tuy mang tính đối trọng rõ rệt, làm cho các cơ quan nhà nước phải tỉnh táo khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhưng không phải là để can thiệp vào hoạt động của chính quyền, không làm rối chức năng hành pháp và không làm can trở chúng.