Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ luật học: "Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Bình thực hiện năm 2003 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Xuân Đức, thuộc chuyên ngành Luật Nhà nước.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, việc tổ chức thực thi quyền tư pháp trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chủ trương đẩy mạnh giải quyết khiếu kiện hành chính, thiết lập hệ thống tòa hành chính để xét xử khiếu kiện của công dân đối với các quyết định hành chính đã được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội VIII nhằm kiện toàn các cơ quan tư pháp và phân định lại thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân (TAND).
Nhằm thể chế hóa chủ trương này, Quốc hội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các văn bản pháp lý nền tảng gồm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998) và Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998. Kể từ khi TAND chính thức thực hiện chức năng xét xử hành chính (ngày 01/7/1996), sau hơn 5 năm thi hành, thực tiễn đã bộc lộ những mâu thuẫn lớn:
- Tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân tiếp tục gia tăng nhanh chóng và diễn biến phức tạp (tập trung trong các lĩnh vực quản lý nhà đất, thuế, xử phạt vi phạm hành chính, xuất hiện nhiều vụ khiếu kiện tập thể).
- Hiệu quả giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính còn hạn chế, số lượng đơn thư khiếu kiện tồn đọng lớn, khảo sát thực tiễn cho thấy khoảng 80% khiếu nại phát sinh từ cơ sở không được giải quyết kịp thời.
- Ngược lại, số lượng vụ án hành chính được thụ lý và giải quyết tại TAND là rất ít, tỷ lệ không đáng kể so với khối lượng khiếu kiện thực tế. Đại đa số TAND cấp huyện chưa thụ lý hoặc giải quyết vụ án hành chính nào, tạo nên tình trạng "nhàn nhã" giả tạo, khiến chức năng xét xử hành chính có nguy cơ mang tính hình thức.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND ở Việt Nam nhằm giải quyết căn bản các vướng mắc lý luận và bất cập thực tiễn này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung, tính chất thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính; làm rõ các loại, các biểu hiện cụ thể của thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND.
- Đề xuất các phương hướng nhằm hoàn thiện theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận, các quan niệm, quan điểm khoa học và nhận thức chung về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết vụ án hành chính; xây dựng và phân tích khái niệm thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND.
- Thứ hai, phân tích, làm rõ nội dung thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính; hệ thống hóa các hoạt động, các loại thẩm quyền của tòa án; đối chiếu với thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hành chính trong hơn 5 năm thực hiện để tìm ra các mặt tích cực, hạn chế, vướng mắc pháp lý và nguyên nhân của những bất cập đó.
- Thứ ba, luận giải và đề xuất các phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND, hướng tới xây dựng văn bản luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính dưới góc độ lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng quyền tài phán hành chính.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của hệ thống TAND Việt Nam theo quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức TAND (sửa đổi năm 1995), Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998); đánh giá thực tiễn hoạt động xét xử hành chính từ ngày 01/7/1996 đến giai đoạn hoàn thành luận án (năm 2003).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trước khi luận án được triển khai, các khía cạnh liên quan đến tài phán hành chính, khiếu nại tố cáo và tư pháp hành chính đã được một số cơ quan nghiên cứu và học giả công bố trong các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học và đề tài cấp nhà nước:
| Tên tác giả / Cơ quan chủ trì |
Tên công trình / Bài viết |
Hình thức / Nơi công bố |
Năm công bố |
Nội dung tiếp cận chính |
| Thanh tra Nhà nước |
Tòa án hành chính, những vấn đề lý luận và thực tiễn (Mã số: 95-98-406/ĐT) |
Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước |
1997 |
Nghiên cứu mô hình tòa án hành chính, các vấn đề lý luận và thực tiễn thiết lập thiết chế xét xử hành chính. |
| Học viện Hành chính Quốc gia |
Thiết lập tài phán hành chính ở nước ta |
Sách chuyên khảo, Nxb Giáo dục, Hà Nội |
1995 |
Đặt vấn đề và cơ sở cho việc hình thành thiết chế tài phán hành chính tại Việt Nam. |
| Đinh Văn Minh |
Tài phán hành chính so sánh |
Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội |
1995 |
Phân tích, so sánh các mô hình tài phán hành chính trên thế giới. |
| Nguyễn Thanh Bình |
Tìm hiểu pháp luật tố tụng hành chính |
Sách chuyên khảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh |
1997 |
Phân tích các quy định ban đầu của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam. |
| TS. Phạm Hồng Thái, TS. Đinh Văn Mậu |
Tài phán hành chính ở Việt Nam |
Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội |
1994 |
Luận giải sự cần thiết và cấu trúc tài phán hành chính trong bối cảnh cải cách hành chính. |
| GS.TSKH. Đào Trí Úc |
Những vấn đề đổi mới hệ thống tư pháp ở nước ta |
In trong sách Đại hội VII/VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học xã hội |
1997 |
Định hình khái niệm hoạt động tư pháp, hệ thống tư pháp và vai trò xét xử để đưa ra phán quyết. |
| PGS.TS. Bùi Xuân Đức |
Tư pháp hành chính và vấn đề tổ chức tư pháp hành chính ở nước ta hiện nay |
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 |
1993 |
Đặt nền móng lý luận về tư pháp hành chính trong hệ thống cơ quan nhà nước. |
| PGS.TS. Bùi Xuân Đức |
Phân định tài phán hành chính và tư pháp hành chính |
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 |
1995 |
Phân biệt phạm vi, thẩm quyền và cơ chế vận hành giữa tài phán hành chính và tư pháp hành chính. |
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã giải quyết từng khía cạnh riêng biệt như phân tích mô hình so sánh quốc tế, nghiên cứu tổng thể hệ thống tư pháp, hoặc giới thiệu các văn bản tố tụng ban đầu. Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu một cách tập trung, trực diện và toàn diện vào phạm trù "thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND" bao gồm việc xây dựng khái niệm khoa học, xác lập các yếu tố cấu thành thẩm quyền, phân tích thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo các giai đoạn tố tụng và cơ chế áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong vụ án hành chính. Luận án của tác giả Nguyễn Thanh Bình là công trình khoa học đầu tiên giải quyết có hệ thống và toàn diện toàn bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết đa tầng:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Về bản chất nhà nước và pháp luật, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân; vị trí trung tâm của hoạt động xét xử và quyền tư pháp.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các văn kiện Đại hội Đảng VII, VIII, IX và Nghị quyết 8 Trung ương Đảng khóa VII về cải cách tư pháp, phân định lại thẩm quyền của TAND, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Lịch sử tư tưởng pháp lý thế giới:
- Thời kỳ cổ đại: Quan điểm của Heracles về bảo vệ pháp luật; Xôcrat (463 - 399 TCN) về mối quan hệ giữa công lý và sự tuân thủ pháp luật; Platon (427 - 374 TCN) về vai trò của hoạt động xét xử đối với sự tồn vong của nhà nước; Arixtot (384 - 322 TCN) về sự phân chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Thời kỳ cận đại: Học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu về sự độc lập của nhánh quyền tư pháp nhằm bảo đảm tự do của công dân; luận điểm của John Locke (thế kỷ XVII) về nguyên tắc "cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, công dân được làm những gì pháp luật không cấm".
- Lý luận pháp lý hiện đại: Quan điểm về thẩm quyền hành chính của Giáo sư Gustave Peiser (Đại học Grenoble - Pháp) và Giáo sư Wolf Ruediger Schenke (Đại học Mannheim - CHLB Đức) về phân loại thẩm quyền theo vụ việc, địa điểm, phẩm cấp; các quan điểm học thuật của GS.TSKH. Đào Trí Úc, TS. Đinh Văn Mậu, TS. Hoàng Văn Hảo, TS. Trần Ngọc Đường tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
| Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích và phạm vi ứng dụng trong luận án |
| Phương pháp phân tích và tổng hợp |
Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích các quan điểm lý luận, các yếu tố cấu thành thẩm quyền, tổng hợp xây dựng định nghĩa khoa học về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND. |
| Phương pháp so sánh |
So sánh giữa khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp; so sánh cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính với cơ chế khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án; so sánh thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án ở một số nước trên thế giới. |
| Phương pháp lịch sử |
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tài phán hành chính tại Việt Nam từ năm 1958 đến năm 1998. |
| Phương pháp điều tra xã hội học |
Thu thập các dữ liệu, khảo sát ý kiến, nhận xét thực tế về sự quan tâm và đánh giá của các nhóm cộng đồng đối với hiệu quả hoạt động xét xử hành chính của TAND. |
| Phương pháp thống kê |
Ghi chép, tập hợp và đối chiếu các số liệu về khiếu nại, tố cáo tại cơ quan hành chính, tỷ lệ giải quyết khiếu nại ở cấp cơ sở (80% chưa được giải quyết kịp thời), số lượng vụ án hành chính thụ lý tại TAND các cấp. |
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức TAND 1992 (sửa đổi 1995), Luật Khiếu nại, tố cáo 1998, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi 1998), các văn bản lập quy từ năm 1958 (Thông tư 436/TTg, Nghị quyết 164/CP, Nghị quyết 165/CP, Nghị định 01/CP, Quyết định 25/TTg, Pháp lệnh 1981, Nghị định 58/HĐBT, Thông tư 02, Nghị quyết 26/HĐBT, Pháp lệnh Thanh tra 1990, Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo 1991).
- Báo cáo chính trị và văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa VII, VIII, IX.
- Số liệu thống kê thực tiễn xét xử hành chính tại TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện và cơ quan thanh tra trong giai đoạn 1996 - 2001.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo cùng 3 chương nội dung với 21 mục chuyên sâu.
Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về thẩm quyền tài phán hành chính thông qua việc phân tích cơ chế quyền lực nhà nước, xác định các khái niệm công cụ và 9 yếu tố cấu thành thẩm quyền.
1. Cơ chế quyền lực nhà nước và các nguyên tắc tư pháp hành chính
- Quyền tư pháp thể hiện tập trung ở chức năng xét xử của tòa án, là cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động công quyền (hành pháp), bảo đảm nguyên tắc pháp chế và quyền con người.
- Luận án phân tích ba nguyên tắc pháp lý cốt lõi của hoạt động tư pháp trong nhà nước pháp quyền:
- Tư pháp không được can thiệp vào hoạt động hoặc làm cản trở hoạt động hành pháp: Tòa án phán xét tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính bị khởi kiện nhằm tránh cho hành pháp vi phạm pháp luật, hạn chế sự lạm quyền nhưng không làm thay chức năng điều hành của hành chính.
- Cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm: Khi xem xét các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, TAND căn cứ vào giới hạn thẩm quyền do pháp luật quy định đối với cơ quan, công chức hành chính.
- Bảo đảm tính ổn định và độc lập của tòa án: Thẩm phán và TAND độc lập khi đưa ra phán quyết cụ thể; sự độc lập của thẩm phán là tiền đề quyết định tính khách quan của quyền tư pháp.
2. Phân định khái niệm khiếu nại hành chính và khởi kiện vụ án hành chính
- Khái niệm khiếu nại hành chính: Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Phân biệt khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp:
| Tiêu chí phân định |
Khiếu nại tư pháp |
Khiếu nại hành chính |
| Đối tượng bị khiếu nại |
Bản án, quyết định tố tụng (khởi tố, bắt giam, niêm phong, kê biên tài sản...), hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán... |
Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước/người có thẩm quyền; quyết định kỷ luật công chức. |
| Người bị khiếu nại |
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. |
Cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. |
| Thẩm quyền giải quyết |
Cơ quan, người tiến hành tố tụng theo luật tố tụng. |
Thủ trưởng cơ quan hành chính (Chủ tịch UBND, Giám đốc Sở, Bộ trưởng, Thủ tướng...). |
| Trình tự, thủ tục áp dụng |
Thủ tục tư pháp (kháng cáo, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm). |
Thủ tục hành chính theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. |
- Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính: Là việc cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cán bộ công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo thủ tục do pháp luật quy định thực hiện quyền yêu cầu tòa án giải quyết vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật trái pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo pháp luật thực định thời điểm này, việc khiếu nại tại cơ quan hành chính là điều kiện tiền tố tụng bắt buộc trước khi khởi kiện ra TAND.
3. Khái niệm và 9 yếu tố cấu thành thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND
Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học:
"Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án là quyền hạn, trách nhiệm, được nhân danh quyền lực nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, tòa án tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục (tố tụng) do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần nâng cao hiệu lực hành pháp."
Luận án xác lập hệ thống 9 yếu tố/nội dung cấu thành thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của TAND:
- Yếu tố tổ chức: Tòa án được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật, có tên gọi, cơ cấu và phạm vi hoạt động xác định.
- Tính hệ thống của tổ chức: Thứ bậc đẳng cấp giữa các cấp tòa án trong hệ thống xét xử liên quan đến phân chia thẩm quyền.
- Giới hạn không gian: Phạm vi địa bàn, vùng lãnh thổ nơi thực hiện thẩm quyền xét xử.
- Giới hạn thời gian: Thời hiệu khởi kiện và thời hạn tố tụng luật định.
- Đối tượng xét xử, giải quyết: Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện.
- Loại việc xem xét và giải quyết: Các nhóm vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử do luật định.
- Trình tự, thủ tục tố tụng: Trình tự tố tụng tư pháp bảo đảm tính hợp pháp và hiệu lực của phán quyết.
- Quyền khởi kiện và người tham gia tố tụng: Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hành chính khi đương sự đệ đơn khởi kiện.
- Quyền hạn của tòa án: Quyền năng xem xét, hủy bỏ, duy trì văn bản hoặc buộc thực hiện hành vi công vụ theo luật định.
4. Đặc điểm quản lý hành chính nhà nước và kinh nghiệm quốc tế
- Hoạt động hành pháp được biểu hiện qua ba hình thức: hoạt động lập quy (ban hành văn bản quy phạm pháp luật), hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật (ban hành quyết định cá biệt) và thực hiện hành vi hành chính. Quản lý hành chính sử dụng 4 phương pháp chủ yếu: thuyết phục, cưỡng chế, hành chính và kinh tế. Do tác động trực tiếp đến quyền lợi công dân, các quyết định cá biệt và hành vi hành chính dễ làm phát sinh khiếu kiện.
- Luận án cũng phân tích sự phát triển thẩm quyền của tòa án và kinh nghiệm xét xử hành chính tại một số quốc gia trên thế giới (như mô hình Hội đồng Nhà nước của Pháp, mô hình Tòa án hành chính độc lập của CHLB Đức).
Chương 2: Thực trạng thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân ở Việt Nam
Chương 2 khảo cứu toàn diện hệ thống quy định thực định và thực tế xét xử hành chính của TAND Việt Nam qua 5 năm áp dụng (1996 - 2001/2003):
- Cơ sở xác lập thẩm quyền của TAND: Phân tích việc thể chế hóa Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức TAND năm 1992 (sửa đổi năm 1995) thành lập Tòa hành chính trong TAND tối cao và TAND cấp tỉnh.
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền xét xử: Phân tích tiêu chí xác định tính hợp pháp của các quyết định hành chính cá biệt, quyết định kỷ luật buộc thôi việc và các hành vi hành chính bị khiếu kiện theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính theo loại việc: Rà soát các loại việc cụ thể mà TAND được quyền thụ lý (như xử phạt vi phạm hành chính, đất đai, thuế, hải quan...) theo phương pháp liệt kê của pháp luật thời điểm đó.
- Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính theo lãnh thổ: Quy tắc xác định thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh theo nơi cơ quan ban hành quyết định hành chính hoặc nơi người bị kiện cư trú, làm việc.
- Thẩm quyền của TAND trong các giai đoạn tố tụng: Phân định thẩm quyền từ khâu thụ lý đơn kiện, hòa giải, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính.
- Thẩm quyền áp dụng pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong giải quyết vụ án hành chính: Đánh giá cơ chế áp dụng tương tự quy định tố tụng dân sự đối với phần giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính.
- Đánh giá thực trạng và nguyên nhân bất cập:
- Chỉ ra sự mâu thuẫn giữa khối lượng đơn khiếu nại phát sinh ngoài xã hội và số lượng án thụ lý tại tòa án.
- Chỉ rõ các nguyên nhân: quy định thẩm quyền theo phương pháp liệt kê loại việc còn quá hẹp; điều kiện tiền tố tụng (bắt buộc phải qua bước khiếu nại hành chính) tạo rào cản; tâm lý e ngại khởi kiện cơ quan hành chính; sự phân định thẩm quyền theo cấp xét xử chưa hợp lý khiến TAND cấp huyện gần như không có án để xét xử.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân
Dựa trên cơ sở lý luận của Chương 1 và thực trạng tại Chương 2, Chương 3 tập trung phân tích các giải pháp khoa học:
- Phương hướng đổi mới: Mở rộng thẩm quyền xét xử của TAND theo hướng chuyển từ phương pháp liệt kê các loại việc sang phương pháp loại trừ (tòa án có thẩm quyền xét xử mọi khiếu kiện hành chính, trừ các quyết định thuộc lĩnh vực bí mật quốc gia hoặc quốc phòng, an ninh theo luật định).
- Hoàn thiện thể chế lập pháp: Đề xuất nâng cấp Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thành một đạo luật hoàn chỉnh (Luật Tố tụng hành chính).
- Hoàn thiện mô hình tổ chức và thủ tục tố tụng: Tăng cường tính độc lập của thẩm phán và Tòa hành chính; phân định lại thẩm quyền giữa TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh; loại bỏ các thủ tục tiền tố tụng không cần thiết nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân; tạo dựng môi trường pháp lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền xét xử hành chính của TAND ở Việt Nam.
- Xây dựng hoàn chỉnh định nghĩa khoa học về "Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân", xác định rõ bản chất đây là quyền năng tư pháp nhân danh quyền lực nhà nước nhằm phán quyết về tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính.
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ 9 yếu tố cấu thành thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án, tạo cơ sở lý luận cho việc phân định ranh giới giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong nhà nước pháp quyền.
- Luận giải sâu sắc mối liên hệ giữa thẩm quyền của tòa án và các hình thức, phương pháp quản lý hành chính nhà nước.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Tổng kết, đánh giá khách quan thực trạng 5 năm đầu tiên vận hành thể chế tài phán hành chính tại TAND các cấp (1996 - 2001/2003).
- Phát hiện và chỉ rõ nghịch lý giữa tình hình khiếu nại gia tăng gay gắt trong xã hội (với 80% khiếu nại ở cơ sở tồn đọng) và số lượng án thụ lý thấp kém tại TAND, vạch rõ tình trạng "nhàn nhã" giả tạo của TAND cấp huyện.
- Đề xuất giải pháp mang tính định hướng lập pháp: kiến nghị hoàn thiện pháp luật nội dung và hình thức, tiến tới xây dựng và ban hành văn bản luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thay thế cho pháp lệnh hiện hành; mở rộng thẩm quyền xét xử của TAND theo hướng bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân trước sự xâm phạm từ các quyết định, hành vi công quyền trái pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi tư liệu thực tiễn của đề tài gắn liền với giai đoạn đầu thực thi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1996 - 2003) và Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, do đó chưa phản ánh các sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật tố tụng hành chính trong các giai đoạn lập hiến và lập pháp sau này.
- Dữ liệu khảo sát chủ yếu tập trung vào các vướng mắc về thẩm quyền theo loại việc và phân cấp tòa án thời điểm năm 2003, chưa đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật tố tụng phức tạp như chứng cứ điện tử hay các tranh chấp hành chính xuyên biên giới.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu mô hình Tòa án hành chính chuyên biệt hoặc các cơ chế tố tụng đặc thù trong các giai đoạn cải cách tư pháp tiếp theo tại Việt Nam.
- Đánh giá tác động thực tế của việc chuyển đổi từ phương pháp liệt kê loại việc sang phương pháp loại trừ khi ban hành Luật Tố tụng hành chính chính thức.
- Nghiên cứu cơ chế thi hành bản án, quyết định hành chính của tòa án đối với cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của phán quyết tư pháp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật: Cung cấp khung lý luận nền tảng về tư pháp hành chính, lịch sử lập pháp về khiếu nại - tố cáo tại Việt Nam và phương pháp phân định thẩm quyền tài phán.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy các môn học Luật Hành chính, Luật Tố tụng hành chính, Lý luận về Nhà nước và Pháp luật.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Cán bộ ngành Tòa án và Viện Kiểm sát: Tham khảo các tiêu chí nhận diện quyết định hành chính cá biệt, hành vi hành chính và quy tắc phân định thẩm quyền tố tụng.
- Cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung luật tố tụng, cải cách tư pháp và cải cách thủ tục hành chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa như thế nào về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án?
Theo luận án, thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của tòa án là quyền hạn, trách nhiệm, được nhân danh quyền lực nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, tòa án tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự, thủ tục (tố tụng) do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; góp phần nâng cao hiệu lực hành pháp.
2. Thuật ngữ "khiếu kiện hành chính" trong luận án bao gồm những hoạt động pháp lý nào?
Thuật ngữ "khiếu kiện hành chính" được luận án sử dụng để chỉ hai hoạt động, hai sự kiện pháp lý có mối liên hệ mật thiết với nhau:
- Khiếu nại hành chính: Đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền hành chính xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật công chức theo Luật Khiếu nại, tố cáo.
- Khởi kiện vụ án hành chính: Việc cá nhân, tổ chức yêu cầu Tòa án nhân dân thụ lý, xét xử và ra phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện theo pháp luật tố tụng.
3. Tác giả chỉ ra những yếu tố nào cấu thành thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính của tòa án?
Luận án chỉ rõ 9 yếu tố cấu thành gồm:
- Yếu tố tổ chức cơ quan xét xử.
- Tính hệ thống của tổ chức tòa án.
- Giới hạn không gian (lãnh thổ).
- Giới hạn thời gian (thời hiệu, thời hạn).
- Đối tượng xét xử, giải quyết (quyết định, hành vi hành chính bị kiện).
- Loại việc xem xét và giải quyết.
- Trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp.
- Quyền khởi kiện và các chủ thể tham gia tố tụng.
- Quyền hạn của tòa án khi ban hành phán quyết.
4. Thực trạng hoạt động xét xử hành chính sau 5 năm thi hành được luận án đánh giá ra sao?
Luận án đánh giá: Tình hình khiếu nại, tố cáo thực tế gia tăng nhanh chóng (đặc biệt về nhà đất, thuế, xử phạt hành chính; 80% khiếu nại từ cơ sở không được giải quyết kịp thời), nhưng số lượng án hành chính được thụ lý tại TAND rất ít, tỷ lệ không đáng kể. Đại đa số TAND cấp huyện chưa từng thụ lý vụ án hành chính nào, dẫn đến tình trạng "nhàn nhã" giả tạo và làm cho chức năng xét xử hành chính có biểu hiện hình thức.
5. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp quan trọng nào để hoàn thiện thẩm quyền xét xử hành chính?
Luận án đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật và tiến tới xây dựng, ban hành một văn bản luật chính thức về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Luật Tố tụng hành chính) thay thế cho Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; đồng thời mở rộng thẩm quyền xét xử của TAND, hoàn thiện môi trường pháp lý để tòa án thực hiện quyền tư pháp bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Bình là công trình khoa học chuyên sâu, nghiên cứu một cách tập trung, toàn diện và có hệ thống về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, xây dựng định nghĩa khoa học và xác lập 9 yếu tố cấu thành thẩm quyền tài phán hành chính trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất. Dựa trên việc phân tích thực trạng 5 năm đầu vận hành Tòa hành chính (1996 - 2001/2003) và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến số lượng án thụ lý thấp, luận án đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học phục vụ cho việc đổi mới, mở rộng thẩm quyền TAND và tiến tới xây dựng Luật Tố tụng hành chính tại Việt Nam.