CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VE TRÁCH NHIEM BOI THƯỜNG THIET HAI CUA NHÀ NƯỚC TRONG THI HANH ÁN DAN SỰ 1. Khái niệm va đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiêt hại Khái niệm trách nhiệm: Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, trách nhiệm là “diéu phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình". Khái niệm này rất gan nghĩa với “nghĩa vụ” là “bổn phận phải làm đối với xã hội hoặc với người khác”.
Dưới phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự rang buộc cá nhân, tô chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luận ly, đạo đức [29, Tr. Dưới góc độ pháp lý, trách nhiệm pháp lý của cá nhân. tổ chức phát sinh trên cơ sở pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật. Khái niệm thiệt hại: Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, thiệt hại được hiểu là “mdt mát, hư hỏng nặng nề về người va cua” [59, Tr 1571].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là “ton thất về tinh mạng, sức khỏe, danh dự, uy tin, tài san của cá nhân, tô chức được pháp luật bảo vệ” [47, Tr. Dưới góc độ luật thực định, từ cách tiếp cận khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo Điều 310 BLDS 1995 thì “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chat và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần”. Tiếp theo đó Điều 305 BLDS 2005 khang định “Trách nhiệm bôi thường thiệt hai bao gồm trách nhiệm boi thường thiệt hại về vat chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tồn thất về tỉnh thần". Như vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì quan điệm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần [1, Tr.
thiệt hại về vật chất là: tài san bị mat, hủy hoại, bi hư hỏng, chi phí phải bỏ ra để khắc phục. ngăn chặn thiệt hại, lợi ích gan liền với việc sử dụng, khai thác tai sản cùng với hoa lợi, lợi tức; thiệt hại về tinh thần bao gồm: tốn thất về danh dự, uy tín, nhân phâm. Như vậy, thiét hại có thể hiểu là những tồn thất, mắt mát vê vật chat và tỉnh thần, nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, thiệt hại này do những hành vi cụ thể gây ra. Khái niệm bồi thường: Dưới góc độ pháp lý, theo Đại từ điển tiếng Việt, bồi thường được hiểu là “đền bù những ton that đã gây ra "[59.
Về mặt pháp lý, bồi thường là một dạng cụ thể của nghĩa vụ dân sự phat sinh do hành vi gây cách bù dap. đền bù tôn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Vậy bồi thường có thể hiểu là việc đền bù những tốn that, mat mát về vật chất và tinh than nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra. Tóm lại, mọi người trong xã hội đều phải tôn trọng pháp luật, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, không được xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Khi một người vi phạm một nghĩa vụ pháp lý, gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bat lợi đo hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu hậu quả bat lợi chính là việc bồi thường thiệt hại. Như vậy, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một người phải đền bù những tổn thất, mat mát về vật chất và tỉnh thân nhằm khắc phục những hậu qua do hành vì gây thiệt hại gáy ra. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động thi hành an dân sự Trong một chế độ dân chủ, Nhà nước do nhân dân thành lập ra và bộ máy nhà nước sau đó sẽ thực hiện quyên lực nhà nước thông qua sự ủy thác trực tiếp hoặc gián tiếp của nhân dân.
Nhà nước dân chủ phải là một nhà nước có trách nhiệm đối với người dân của mình, và do đó, nếu Nhà nước gây thiệt hại cho người dan thì phải bồi thường, ít nhất là bù đắp những tốn thất mà họ phải gánh chịu. Chế định TNBTCNN là một yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyên. Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, pháp luật luôn giữ một vị trí tối thượng và được mọi chủ thể tôn trọng, trong đó Nhà nước và công dân bình đăng trên nhiều phương diện. Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực công, thực hiện hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật, có quyền yêu cầu công dân phải có trách nhiệm và thực hiện các nghĩa vụ nhằm duy tri sự tồn tại của bộ máy nhà nước.
Ngược lại, Nhà nước cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với công dân, bảo đảm và tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền cũng như hưởng các lợi ích hợp pháp của mình. Nhà nước, mặc dù là chủ thé đặc biệt, tuy nhiên, cũng giống với mọi chủ thé khác, khi tham gia vào quan hệ pháp luật đều phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng và không làm tôn hại đến các quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, nếu gây thiệt hại thi phải bôi thường. Thiét hại ở đây bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh than. Đề thực hiện các chức năng của mình thì Nhà nước không thể tự bản thân thực hiện quyền lực mà quyền lực phải được thực hiện thông qua “cánh tay nối đài” của minh là đội ngũ cán bộ, công chức, và ngược lại, khi cán bộ, công chức thi hành công vụ thì họ cũng phải nhân danh Nhà nước để thực hiện quyén lực Nhà nước.
Vi vậy, khi cán bộ, công chức nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực công mà gây thiệt hại cho công dan, tổ chức thì Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường. Từ những phân tích trên và khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước như sau: Trach nhiệm bôi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệm pháp lý mà theo đó, Nhà nước phải bôi thường những thiệt hại về vật chất và bù đắp tốn hại về tinh than khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật làm gáy thiệt hại cho các to chức, cá nhân trong quá trình thực thi quyên lực công. TNBTCNN trong hoạt động THADS là một bộ phận của TNBTCNN nói chung, vì vậy ta có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự như sau: “Trach nhiệm bồi thường thiệt hai cua Nhà nước trong hoạt động thi hành án dan sự là trách nhiệm pháp lý mà theo đó Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại về vat chat và bù đắp ton hại về tinh thân khi có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án dân sự gáy thiệt hại cho các tô chức, cá nhân trong quá trình thi hành an dan sự `. Quan hệ pháp luật về TNBTCNN, trong đó cũng bao gồm quan hệ về TNBTCNN trong hoạt động THADS gồm các yếu tố cơ bản sau: Về chủ thé, trong quan hệ pháp luật về TNBTCNN bao gồm bên gây thiệt hại là Nhà nước và bên bị thiệt hai là các cá nhân, tổ chức, chủ thé khác.
Trong đó, một bên chủ thể có trách nhiệm luôn luôn là Nhà nước; cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường không nhân danh mình mà nhân danh Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như công chức nhân danh Nhà nước khi thực hiện công vụ. công chức là người gây thiệt hại, tuy nhiên hành vi thi hành công vụ của công chức được coi là hành vi của nhà nước, các quyết định của công chức khi thi hành công vụ là quyết định của Nhà nước. Do đó, trong trường hợp người thi hành công vụ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại của công dân hoặc tổ chức thi Nhà nước phải có trách nhiệm về những thiệt hại đó và cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý người thi hành công vụ thực hiện việc giải quyết bồi thường bồi thường. Cụ thể đối với hoạt động THADS, chủ thé gây thiệt hại là người thi hành công vụ được giao nhiệm vụ thi hành án và cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là cơ quan THADS.
Vé khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thé là lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách thể là đối tượng mà các chủ thể quan tâm, hướng tới, nham đạt được hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Đối với quan hệ pháp luật về TNBTCNN thì khách thé chính là những quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước. Khi thực thi quyên lực công mà Nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì ngoài những thiệt hại hữu hình là quyền và lợi ich của các cá nhân, tổ chức đó bị xâm phạm thì thiệt hại của Nhà nước là những thiệt hại vô hình không thể đo, đếm được, đó chính là sự giảm sút lòng tin của người dân đối với những hoạt động của bộ máy nhà nước.
Đó là những thiệt hại tưởng chừng như vô hình nhưng hậu quả trên thực tế vẫn có thé dé dàng nhận thấy. Vẻ diéu kiện phat sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại. Theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì trách nhiệm bài thường thiệt hại ngoài hợp đồng chi phát sinh khi có các điều kiện: (1) có thiệt hại xảy ra, (2) có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, (3) Có mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt ai, (4) Có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong quan hệ bồi thường thiệt hại của Nhà nước thì có điểm gì đặc thù không cũng đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng trong chính sách pháp lý của từng nước.