Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, vị trí, vai trò của Chấp hành viên 1. Quan niệm, lịch sử hình thành Chấp hành viên ở nước ta 1. Quan niệm về Chấp hành viên Dưới góc độ thuật ngữ, cụm từ “thi hành án” được Từ điển Luật học định nghĩa:“Thi hành án, giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho các phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, bản án sau khi có hiệu lực thi hành phải được thi hành nghiêm chỉnh”. Dưới góc độ chính sách pháp luật của Nhà nước ta, hoạt động thi hành án được coi là hoạt động tư pháp, cụ thể là Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đề ra chủ trương tiếp tục cải cách, đổi mới tổ chức hoạt động các cơ quan tư pháp, đã nhấn mạnh:“Thành lập cảnh sát tư pháp trên cơ sở tổ chức và lực lượng hiện có ở ngành công an để hỗ trợ công tác thi hành án hình sự, dân sự., khẩn trương ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án… làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp. Ngoài ra, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu rõ: “Chuẩn bị về điều kiện cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Từng bước thực hiện xã hội hóa, giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án… Xây dựng lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp chính quy, đáp ứng kịp thời cho hoạt động xét xử, thi hành án”.
Dưới góc độ thực tiễn, Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đã đi vào thực tế cuộc sống và theo quy định của Luật này thì, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (trừ hệ thống tổ chức thi hành trong quân đội) được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu 7 Luan van trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án - những quy định này mang đậm tính chất tư pháp. Tại Tờ trình số 31/TTr-CP ngày 04/4/2008 của Chính phủ về dự án Luật Thi hành án dân sự cũng đã khẳng định:“Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước”.
Nói tóm lại, hoạt động thi hành án là một trong những hoạt động tư pháp của Nhà nước nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác được thi hành theo đúng quy định của pháp luật. Chấp hành viên thi hành án dân sự, xét về cả phương diện lý luận và phương diện thực tiễn, là một chức danh tư pháp đã được quy định từ rất sớm trong các văn bản pháp luật về THADS. Từ khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 đến nay, các quy định về vai trò, vị trí, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và tầm quan trọng của chức danh Chấp hành viên thi hành án dân sự ngày càng được bổ sung, hoàn thiện đầy đủ, xác định vị trí của chức danh này trong bộ máy tổ chức cơ quan thi hành án dân sự cũng như trong quá trình tổ chức thi hành án. Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “1.
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm 3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên”.
Qua nghiên nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về THADS, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, có thể đưa ra quan niệm về Chấp hành viên như sau: Chấp hành viên là công chức thi hành án dân sự, là người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định của 8 Luan van Luật Thi hành án dân sự. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm. Chấp hành viên được cấp trang phục, phù hiệu để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ. Khái quát lịch sử hình thành Chấp hành viên Khái niệm “Chấp hành viên” được ra đời khá sớm ở Việt Nam.
Người thực hiện ban đầu chưa được gọi Chấp hành viên mà là Ban Tư pháp xã và Thừa phát lại (Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ tháng 7/1946 đến tháng 7/1960 nhiệm vụ thi hành án do Thẩm phán kiêm nhiệm vừa xét xử vừa tổ chức thi hành bản án, quyết định. Sau đó, trong khoảng 12 năm (từ tháng 7/1960 đến tháng 10/1972), bố trí ở các Tòa án nhân dân địa phương. Theo đó, Phòng Chỉ đạo thi hành án được thành lập từ ngày 14/11/1974 [25, tr. Từ ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186-TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên và Thông tư số 186- TC cùng ngày hướng dẫn thực hiện Quyết định số 186-TC đã thay tên gọi “Nhân viên Chấp hành án” bằng tên gọi “Chấp hành viên”, tuy nhiên về tổ chức thì Chấp hành viên vẫn được bố trí ở các Tòa án địa phương dưới sự quản lý của Chánh án Tòa án để thực hiện chuyên trách việc thi hành án.
Khái niệm “Chấp hành viên” ra đời và được sử dụng thống nhất trong Luật Thi hành án dân sự và trong các văn bản pháp luật khác có liên quan từ đó đến nay. Như vậy, khái niệm “Chấp hành viên” được ra đời từ các tên gọi trước đây xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam như “Thừa phát lại”, “Chấp hành viên đồng thời là Thẩm phán”, “Nhân viên Chấp hành án” [25, tr. Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự. Trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008, việc tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân sự do Chấp hành viên thực hiện.
Tuy nhiên, đồng thời với việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Quốc hội cũng ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, theo đó, Nghị quyết quy định để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số 9 Luan van công việc liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương. Việc thí điểm được thực hiện từ ngày luật này có hiệu lực đến ngày 01/7/2012. Đây là một trong những nội dung triển khai thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “Từng bước thực hiện xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan Nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”.
Trên cơ sở Nghị quyết này của Đảng, Quốc hội đã lần lượt ban hành 03 Nghị quyết từng bước thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại; bắt đầu từ năm 2010 thí điểm riêng Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 01/7/2012 đến hết ngày 31/12/2015 thực hiện thí điểm nhân rộng trên phạm vi 13 tỉnh thành phố và kể từ ngày 01/01/2016 đã chấm dứt việc thí điểm để thực hiện chính thức, đánh dấu sự ra đời của một nghề mới, nghề Thừa phát lại, trên phạm vi cả nước ở Việt Nam. Các Nghị quyết quan trọng của Quốc hội liên quan đến việc thí điểm và tổ chức hoạt động của Thừa phát lại bao gồm, Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về Luật Thi hành án dân sự, Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016. Như vậy, hiện nay, bên cạnh chức danh Chấp hành viên còn có chức danh Thừa phát lại.
Do vậy nếu nói chỉ có chức danh Chấp hành viên mới có thẩm quyền tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân sự là hoàn toàn chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và không phù hợp với thực tiễn công tác Thi hành án dân sự. Nếu chế định Thừa phát lại vẫn tồn tại và phát triển thì quy định của Luật Thi hành án dân sự phải cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp khi quy định về người được giao tổ chức thi hành bản án, quyết định [25, tr. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về kiện toàn của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự, các chức danh thi hành án dân sự, một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự.