Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Chương 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và đề xuất kiến nghị. 7 Chương Í MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI CUA NHA NUOC TRONG HOAT DONG QUAN LY HANH CHINH 1. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nha nước 1.
Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hai Khi đề cập đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế bắt buộc một người phải thực hiện hành vi hoặc trách nhiệm gánh chịu những bat lợi về tài sản hay về nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Trong một xã hội nhất định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên cạnh các quyền xác định được đều gắn với trách nhiệm của các bên chủ thé tham gia quan hệ đó. Tuy nhiên, theo tính chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân ra theo đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của từng loại quan hệ tài sản khác nhau dé xác định. Tương ứng với các đôi tượng điều chỉnh của mỗi ngành luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được Nhà nước quy định trong một phạm vi và có những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bồi thường là: “đền bù những tổn thất đã gây ra” [56, tr. Trong đời sống xã hội, việc giải quyết những đền bù tồn thất gây ra chủ yếu thông qua mối quan hệ pháp luật dân sự. Trước khi được quy định là một loại trách nhiệm pháp lý chịu sự điều chỉnh của Luật tư như hiện nay thì trách nhiệm BTTH đã trải qua một quá trình phát triển với nhiều giai đoạn thé hiện bản chất khác biệt. Có thé khái quát các giai đoạn phát triển cơ ban của trách nhiệm BTTH như sau: Giai đoạn thứ nhất: O thời kỳ cỗ đại, khi chính quyền trong xã hội còn chưa được tổ chức một cách chặt chẽ, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạm vào quyền loi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lây tài sản của họ.
Chế độ này còn được gọi là chế độ tư nhân phục thù. 8 Giai đoạn thứ hai: Người gay ra sự tôn hại có thê nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân dé tránh trả thù. Chế độ này được gọi là chế độ thục kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc, là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyên, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, là chế độ thục kim bắt buộc.
Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất BTTH. Đến thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyền từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim. Giai đoạn thứ ba: Chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự. Chính quyền, trước hết, can thiệp dé trừng phạt những tội phạm chi liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân.
Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới do không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ấu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mat hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin BTTH của mình về dân sự [24. Tuy trong một SỐ trường hợp, Luật La Mã đã tiễn tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được rõ thành một nguyên tắc trách nhiệm tông quát, bắt buộc người gây ra sự ton thất phải BTTH bắt luận trường hợp nào.
Ở Việt Nam, cô luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc Luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cô như: Bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về luật hình, vi dụ: Điều 582 Quốc triều Hình luật quy định: “Nếu những súc vật và chó đã húc, da và căn người mà cách làm hiệu và ràng buộc 2 không đúng phép - (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dai mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất. Nếu cô ý thả ra dé làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc.
Người được thuê đến đề chữa bệnh cho súc vật, hay là người cô trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội ”. Tuy nhiên, trong một vai trường hợp đặc biệt, cô luật Việt Nam cũng quy định sự bồi thường. Chăng hạn, đối với trường hợp đánh người bị thương, Điều 468 Quốc triều Hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô. Cụ thé: Đánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi 10 ngày, băng vật khác thì phải nuôi 20 ngày, băng thứ có mũi nhọn hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày.
Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự hay dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự. Trong giai đoạn hiện nay, trách nhiệm BTTH được quy định va điều chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt ra ở tất cả các nước. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự (TNDS), theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tốn thất mà mình gây ra. Trách nhiệm BTTH được BLDS năm 2005 quy định tại Điều 307 (về trách nhiệm BTTH nói chung) và chương XXI (về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng).
Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường. Từ góc độ khoa học pháp lý cho thấy, mỗi thành viên sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thê vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyên và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi 10 phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tốn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp ton thất cho người khác được hiểu là BTTH.
Như vậy, có thể hiểu rách nhiệm BTTH là một loại TNDS mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây ton hại về vật chất hoặc tinh than cho người khác phải bồi thường những ton that mà mình gây ra. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Trách nhiệm BTTH từ hành vi xâm phạm quyên, lợi ích hợp pháp của các tô chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể. Vì vậy, khi Nhà nước thực thi công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thi cũng phải chịu trách nhiệm BTTH. Trách nhiệm BTTH của Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các tốn thất về tài sản mà còn phải bù đắp những ton thất về tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.
Do vậy, trdch nhiệm bồi thường thiệt hại cua Nhà nước là trách nhiệm cua nhà nước khôi phục những ton thất về tài sản, bù đắp những tốn thất vẻ tinh than trong trường hop người thực thi công vụ của Nhà nước vi lợi ích chung đã gáy ra những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của ca nhân, tài san, uy tín của tổ chức, quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thé khác. Trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước gồm các yếu tô cơ bản sau: Chủ thể, khách thể, các điều kiện phat sinh trách nhiệm BTTH. Về chủ thể, các bên trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước luôn bao gồm bên gây thiệt hại là Nhà nước và bên bị thiệt hại là các cá nhân, tô chức, chủ thé khác. Trong đó, Nhà nước luôn là một bên trong quan hệ về trách nhiệm BTTH này.
Việc quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về một cơ quan đại diện chung hay trách nhiệm thuộc về từng cơ quan cụ thể thuộc về chính sách pháp lý của mỗi quốc gia, tuy nhiên cần phải khang định rang một bên chủ thể có trách nhiệm luôn là Nhà nước; cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường không nhân danh mình mà nhân danh Nhà nước trực tiếp II thực hiện trách nhiệm BTTH cũng như nhân danh Nhà nước khi thực hiện công vụ. Về khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thể là “lợi ích vật chất, tỉnh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia các quan hệ pháp luật” [54, tr. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách thê là “đối tượng mà các chủ thể quan tâm hướng tới, nhằm đạt tới hoặc tác động vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự” [54, tr. Trên thực tế, khi hoạt động công quyền gây ra thiệt hại, thì đó là những thiệt hại vật chất, thiệt hai tinh thần của các cá nhân, tô chức.
Tuy nhiên, có một thiệt hại mà không thể đo, đếm được là lòng tin của người dân vào hiệu quả hoạt động cũng như uy tin của Nhà nước. Vì vậy, khách thé trong trường hợp này là “quyền, loi ich hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước”.