Chương I: Một vấn dé van dé ly luận cơ bản về nguyên tắc công bằng trong xét xử vu án hành chỉnh. Chương II: Quy định của pháp luật và thực trang thực hiền nguyên tắc công bằng trong xét xử vụ an hanh chính. Chương IIT: Một số giải pháp bảo dim hiệu quả thực hiền nguyên tắc công bằng trong xét xử vụ án hảnh chỉnh. CHƯƠNG1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGUYÊN TAC CÔNG BẰNG TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 111.
Khái niệm công bằng và nguyên tắc công bằng trong xét xử vụ án hành chính 1.11 Công bằng Qua tham khảo một số tài liệu va bai viết của TS. Nguyễn Thi Thủy (Đại học Luật Ha Nội) về Công bằng và ý nghĩa của bao dm nguyên tắc công ‘bang trong tô tụng hanh chính, ta có thể đưa ra khái niệm vẻ công bằng Công. bằng 1a một phạm trù khoa học được nghiên cứu bởi nhiễu lính vực khoa học khác nhau bao gém cả triết học, chính trị, pháp lý. Công bang được coi là một hiện tương xã hôi có ý nghĩa khách quan mà con người cần hướng tới trong tư duy, nhên thức va hành đông.
Vi vay, công bằng vừa La muc đích, vừa lả chuẩn mực để đánh giá sự tôn tại, phát triển của cộng. đồng, của zã hội loài người. Sự thiết lập công bằng dựa vào ý chí chủ quan, do con người (nhóm, thâm chi là giai cấp) quyết định là duy tâm, 1a trái quy luật tự nhiên, x hội va tư duy. Co chăng nó chỉ được xác định ở phạm vi và quan niêm Phạm vi va quan niệm lại phụ thuộc vào quá trình nhận.
thức do điều kiện kinh tế va sinh hoạt vật chất quyết định. Công bằng trong xã hội có giai cấp là trật tự giải quyết các mâu thuẫn giai cấp và giải quyết các vân để xã hồi. Trước tiên, công bằng trong công lý là một khái niêm căn bản của triết học pháp quyên, triết hoc xã hội cũng như của đời sống chính tri, x hội, tôn giáo và pháp luật, công bằng trong than học được xem la đức hạnh căn ban thứ hai của con người, bao gém sw thông minh, công bằng, dũng căm và sự chững mực. 6 Đồi với những nba kinh điển của tu tưởng dân chủ như Pericles (405 = TCN), Solon (638 — 559 TCN), Tocqueville (1805 ~ 1859).
thi dân chủ là hình thức căn ban của công, g, va nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc tối cao của nó. Bình đẳng là đạo đức (Ethos) của dân chủ. Ở đây người ta phân biệt giữa công bằng khách quan là nguyên tắc tốt cao để biện luận. cho pháp chế, các chế định và hệ thống xã hội như pháp luật, nha nước, kinh tế, gia đính va công bằng chủ quan la một đức hạnh (Tugend).
Trước câu hôi, công bang là gi, thông thường được trả lời rằng. Hạt nhân của công bằng là sự bình đẳng Từ đó chúng ta cúng thấy rằng bình. đẳng không phải là tat ca của công bằng. Tuy nhiên, thời kỷ sau Immanuel Kant (1724 — 1804), đặc biết trong chủ nghĩa thực chứng (Positivism), người ta thường định nghĩa ngắn gon sự công bang trong nguyên tắc bình.
đẳng, và sự bình đẳng này được thể hiện trong công thức: Doi xử như nhau. đổi với những cải giảng nhau vả không như nhau đổi với những cái không giống nhau. Hans Kelsen (1881-1973) cho rằng chỉ có nguyên tắc hình thức nay mới là khoa học, còn nội dung của công bằng thì không thé là đổi tượng của khoa học mã la đổi tượng của chính tri. Kelsen cho rằng, chúng ta không biết va cũng sẽ không bao giờ biết nội dung của công bang va như vây, với ông, triết học pháp quyên hay là học thuyết vé công bằng chỉ giới hạn ỡ hình thức.
Với Gustav Radbruch (1878 - 1949), công bằng cũng la bình đẳng, nhưng nguyên tắc bình đẳng chỉ có tính chất hình thức, bởi vậy cần phãi có một nguyên tắc mang tính chất nội dung. Ong đã đưa ra khái niêm "phù hợp với mục dich” (Zweckmassigkeit), nhưng khái niêm này không bao hâm trong khái niệm công bằng ma ông đất nó bên canh công bằng va “bảo đâm an toàn pháp lý”. Bao dim an toàn pháp lý là cần thiết bối vi sw phủ hợp với mục đích chỉ có giá tri tương đối va phải can đến quyền lực. 7 lực quyết định cái ma khoa học không thể xác định được.
Ông cho rằng, công bang, sự phủ hợp với mục đích va an toan pháp lý là ba mất của khái tiệm pháp quyền. Arthur Kaufmann nha triết học Đức Trong các tác phẩm bản vẻ triết học pháp quyền như "Về sự công bằng" (1993), "Nhập môn triết học pháp quyển và lý luận pháp quyển hiện đại” (1994), “Triết học pháp quyển” (1997),. tiếp thu, phát triển tư tường trên của Radbruch va lập luận rằng, công bằng (theo nghĩa rông) có ba khía canh: "sự bình đẳng (cổng bằng theo nghĩa hẹp), sư phủ hợp với mục đích (chính là công bằng xã hội) và sự ‘bao đâm an toàn pháp lý (hiêu lực của luật)" (Kaufmann, 1997, tr. “Bình đẳng 14 khía cạnh hình thức của công bằng, sự phủ hợp với mục đích là khía cạnh nội dung của công bằng va sự bảo đảm an toàn pháp lý l chức ning của công bằng.
Tuy nhiên sự phân biết ba khia cạnh hình thức, nội dung va chức năng của công bằng chi để đáp ứng nhu céu hệ thông hóa các khía cạnh của công bằng. Còn sự thật thì công bằng vừa lả tình thức, nội dung va chức năng. Không thé có nguyên tắc bình đẳng ma hoàn toàn không có nội dung, va sự an toàn pháp lý không chỉ tốn tại cho ‘ban thân, ma để phục vụ cho bình đẳng và công bằng xã hội. Cho nên sự.
phân chia trên không phải la sự phân biệt bản chất của công bằng, mã là sự ác định cung bac các khía cạnh của nó” (Kaufmann, 1997, tr. 153 ~ 154), Thứ hai, công bằng lả bình đẳng. Theo Kaufmann, quan điểm của Aristote về công bằng mà hạt nhân. của nó là sự bình đẳng (Gieichheit).
"đối xử như nhau đổi với những cát như nhau và đối xử khác nhau đổi với những cái khác nhau, cho đến nay vẫn là xuất phát điểm của nhiều học thuyết triết học pháp quyền phương Tây. Aristote đã phân biệt hai loại công bang, trong đó sự bình đẳng thể hiên ở hai hình thức khác nhau, đỏ 1a công bằng bu trừ (iustitia 8 commutativa) và công bing phân chia (justitia distributiva). Công bằng bit trừ là công bằng giữa những cát khác nhau trong tự nhiền, nhưng như nhau trước pháp luật. Công bằng bù trừ có nghĩa là sw bình đẳng tuyệt đổi giữa đưa và nhân giữa những cái được pháp luật xem như nhau, chẳng hạn như hàng hóa va giá cả, thiệt hại và bôi thưởng.
Còn công bằng phân chia lại lả sự bình đẳng tương quan trong su đối xử với một nhóm người, la sự phan 'tbổ quyển và nghĩa vụ theo các chuẩn độ ximg đáng, khả năng, nhu cầu” (Kaufmann, 1997, tr 157) Tuy nhiên, theo Kaufmann, nguyên tắc binh đẳng trên của Aristote trước hết chỉ mang tính thuần túy hình thức, bi nó chỉ nói ring những gi giống nhau phải được đổi xử như nhau và những gì khác nhau phải được đổi xử khác nhau. Nhưng nó không nói rằng cái gi giống nhau và cát gì khác nhau. Ma vẫn dé nay lại quan trong cho việc xây dựng các quy phạm. Nguyên tắc bình đẳng tương xứng trên cũng không nói ring phải đổi xử với cái giống nhau như thé nao và với cái không giống nhau như thé nao, Mà van để này lại quan trọng đổi với việc quy định hậu quả pháp lý.
Không có gì trên thể giới nay lâ hoàn toàn giống nhau va hoàn toàn khác nhau, ma chỉ it nhiều giống nhau vả khác nhau căn cứ vảo một điểm so sánh Su giảng nhau lả sự trừu tượng hóa cái không giống nhau, và sự không giống nhau cũng lại la sự trừu tượng hóa cái giống nhau. một giới han lôgíc giữa sự giảng nhau va sw tương tự. Su giống nhau bao giờ cũng chỉ là sự tương tự & một gúc đồ nao đó. Tir những lập luận trên KauRnann cho rễng nguyên tắc bình đẳng chỉ mang tính hình thức, trong nhiễu trường hợp cụ thể, nguyên tắc trên có thé gay ra những bat công.
Vi vậy, can phải có thêm một nguyên tắc mang tính. nội dung và như vay bão dim vẻ mặt khoa học và thực tiễn. Nguyên tắc nồi 9 dung nay chính 1a tính mục đích của phap quyển hay công bằng sã hội (soziale Gerechtigkeit) Dưới góc đô pháp lý thi sư công bằng được hiển diện thông qua sự "binh đẳng" ma pháp luật thường quy định Thực tế thi bình đẳng không. phải là công bằng, binh đẳng chi là yêu tổ cơ ban hop thành sự công bằng Trên lý thuyết thì bình đẳng trước pháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến.
s công bang Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn vẻ nhân. quyên và dân quyển của nước Pháp năm 1789 đều dé cao gia tri bình đẳng, công bing, mục đích là chống lại sự phan biệt đối xử dựa trên sự khác biệt vẻ nguồn gốc xuất thên, chủng tộc, mâu da, giới tính, xu hướng tỉnh đục, ngôn ngữ, tôn giáo, thể giới quan chính trị, nguồn gốc xuất thân, tải sản. hay các điều kiện khác. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật bị vi phạm.
khi công quyền hành xử tùy tiên, đối xử bat công hơn đối với một nhóm. người nay so với một nhóm người khác, không dựa trên căn cứ pháp lý nào cả, mic dù giữa hai nhóm nảy không có bat cứ một sự khác biết nao về mat địa vị pháp lý. Những đạo luật vi pham nguyên tắc bình đẳng phải bị tuyên bố vô hiệu. Những quyết định hành chính hay phán quyết của Tòa án vi pham nguyên tắc bình đẳng phải bi hủy bô.
Đây chính là nguyên tắc cơ bản. sya xiyyêt sút tt tả cặc Hiển phap tha Việt Na vacea các “HIẾP pia kháe trên thể giới Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất ban năm 1995, "bình đẳng" được định ngiĩa là sự được đổi xử như nhau vẻ các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa không phân biết thảnh phân va địa vi x8 hội, trong đồ trước tiến và co ban nhất lả bình đẳng trước pháp luật Binh đẳng xã hội phải được thực hiện trên nên tăng công lý, pháp luật. Công bằng xã hội được cụ thể hóa thanh các nguyên tắc ứng xử va 10 được thể chế hóa thanh các quy định pháp luật hoặc thanh các quy ‘bat thành văn. Công bằng xã hội theo pháp luật là phương thức, la cơ chế để thực hiên bình đẳng x hội thực chất.
Công bằng xã hội khác với bình. quân chủ nghĩa.