Chương 1: “Cơ sở pháp lý về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH”. Chương 2: “Thực tiễn hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận” Chương 3: “Kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận”. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƢ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1. Khái niệm liên quan đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 1.
Khái niệm tiếp công dân “Tiếp công dân” nếu như được hiểu dưới góc độ đơn giản nhất về từ ngữ, thì đó chính là hoạt động đón tiếp, tiếp xúc, giao tiếp giữa người có trách nhiệm với công dân, nhằm đáp ứng hoặc giải quyết yêu cầu, kiến nghị của công dân. Pháp luật quy định: “Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật” 6. Như vậy, tiếp công dân còn được hiểu là hoạt động nhằm phục vụ cho việc “tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân”. Đồng thời, hoạt động này còn nhằm phục vụ cho việc quản lý của Nhà nước, bởi vì, qua tiếp công dân, người có trách nhiệm sẽ có cơ hội giải thích, hướng dẫn cho công dân, để công dân thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, tức là đúng với ý chí của Nhà nước, làm cho Nhà nước được thể hiện rõ nét và hiệu quả hơn vai trò của mình.
Do vậy, thông qua sự “giao tiếp” đặc biệt này, công dân và Nhà nước đều mong muốn đạt được những mục đích nhất định, và nếu như mục đích của các bên đều đạt được một cách hài hòa, thì xã hội sẽ ổn định, kinh tế theo đó sẽ được thúc đẩy phát triển. Khái niệm về khiếu nại, tố cáo “Khiếu nại” là một hiện tượng nảy sinh trong đời sống xã hội. Nếu được hiểu theo nghĩa rộng thì khiếu nại là việc người nào đó cảm thấy không hài lòng, chưa 6 Khoản 1, Điều 2, Luật Tiếp công dân 9 đồng ý một việc gì đó và có phản ứng lại nhằm bảo vệ cho quyền lợi của chính mình. Dưới góc độ luật pháp, “khiếu nại” là quyền Hiến định của công dân: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.
Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định”7. Trên cơ sở đó, khái niệm về khiếu nại được quy định như sau: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”8. Khái niệm này cho thấy rằng, trong mối quan hệ khiếu nại, bên bị khiếu nại sẽ là đại diện của Nhà nước và bên thực hiện quyền khiếu nại sẽ thực hiện quyền, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Quyền khiếu nại của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thể hiện sự dân chủ của pháp luật, là một trong những cách thức để công dân thực hiện quyền giám sát của Nhân dân.
“Tố cáo” là “đưa người hay sự việc cho người có thẩm quyền xử phạt”9. Dưới góc độ xã hội, tố cáo thể hiện sự bất bình của một người vì hành vi sai trái của người khác, vì vậy cần phải báo cho cơ quan, hoặc người có thẩm quyền để có biện pháp xử lý. Tố cáo có thể là việc mà chủ thể thực hiện nhằm để tự vệ, bày tỏ thái độ, hoặc để thể hiện trách nhiệm của công dân. Tố cáo phản ánh sự bất ổn trong xã hội và trong đời sống, cần phải được xem xét, giải quyết theo quy định.
7 Điều 74, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). 8 Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 9 Trương Văn Hùng, (2007). Từ điển Tiếng Việt. Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh niên, trang 1155 10 Khi được hiểu dưới góc độ luật pháp, “tố cáo” là “quyền cơ bản của công dân” được ghi nhận bởi đạo Luật có giá trị pháp lý cao nhất10.
Theo đó, Luật Tố cáo năm 2011quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”11. Trong giai đoạn hiện nay, quyền khiếu nại, quyền tố cáo không còn chỉ được xem là quyền công dân mà đã trở thành quyền con người được Hiến pháp năm 2013 quy định12. Vì thế, khái niệm về tố cáo đã được sửa đổi theo hướng: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”13. Như vậy, chủ thể thực hiện quyền tố cáo đã được mở rộng hơn, không chỉ là “công dân” mới được quyền tố cáo, mà quyền này thuộc về bất kỳ “cá nhân” nào.
Việc mở rộng chủ thể thực hiện quyền tố cáo là nhằm đảm bảo tốt nhất quyền con người, tăng cường cơ hội để “cá nhân” (trong đó có công dân) tham gia thực hành quyền “dân chủ” trên thực tế, phát hiện các hành vi trái pháp luật để kịp thời xử lý. Khái niệm kiến nghị, phản ánh “Kiến nghị”, “phản ánh” cũng là một hiện tượng nảy sinh từ đời sống xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến nghị” là “ý kiến, đề nghị đưa ra để yêu cầu hoặc thảo luận một điều gì”14; còn “phản ánh”, nếu hiểu theo nghĩa thông thường thì đó 10 Điều 74, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bố sung năm 2001) 11 Khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo năm 2011 12 Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” 13 Khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo năm 2018 14 Trương Văn Hùng, (2007). Từ điển Tiếng Việt.
Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh niên, trang 626. 11 là việc tái hiện, trình bày, diễn tả lại nét đặc trưng một sự việc nào đó qua sự nhìn nhận của người phản ánh. Dưới góc độ pháp luật thì: “kiến nghị, phản ánh là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó”15. Như vậy, công dân khi thực hiện quyền “kiến nghị”, “phản ánh” sẽ chủ động tham gia vào việc quản lý Nhà nước qua việc mang đến những thông tin, đưa ra các ý kiến và đề xuất giải pháp nhằm “góp ý” để Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình.
Việc phân biệt rõ thế nào là công dân “kiến nghị”, “phản ánh” với việc công dân “khiếu nại”, “tố cáo” là rất quan trọng, vì phân biệt đúng thì sẽ áp dụng đúng các quy định để giải quyết. Khái niệm về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân” 16, vì thế, “dân nguyện” là hoạt động rất cần thiết và quan trọng của Quốc hội. Tuy các văn bản pháp luật chưa quy định về khái niệm “dân nguyện” và “công tác dân nguyện”, nhưng hiện nay, “dân nguyện được hiểu là tâm tư, nguyện vọng, thỉnh nguyện của Nhân dân và công tác dân nguyện chính là những hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, thỉnh nguyện của Nhân dân để xem xét, giải quyết vì mục tiêu: xây dựng chính quyền, xây dựng đất nước; bảo vệ lợi ích hợp pháp của người đưa ra thỉnh nguyện hoặc vì lợi ích chung của toàn xã hội; đồng thời, thể chế hóa nguyện vọng chính đáng của nhân dân thành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước”17. Để thực hiện nhiệm vụ này, Ủy 15 Khoản 2, Điều 2, Luật Tiếp công dân 16 Điều 69, Hiến pháp năm 2013; Khoản 1, Điều 1, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 12 Ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã thành lập Ban Dân nguyện, để tham mưu, giúp UBTVQH về công tác dân nguyện18.
Theo đó, “hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân”, chính là một trong những hoạt động thể hiện rõ nét về công tác dân nguyện.