phần mở đầu và kết luận bao gồm 4 phần: Phần 1 là quan niệm về nghèo và chính sách giảm nghèo; Phần 2 đề cập đến các chính sách giảm nghèo ở Việt Nam; Phần 3 là thực trạng nghèo và kết quả của các chính sách giảm nghèo; Phần 4 là định hướng chính sách giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới [20]. “Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị của Đặng Thị Hoài (2011), Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giảm nghèo, giảm nghèo theo hướng bền vững, đồng thời phân tích, đánh giá tổng thể tình hình thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền vững của Việt Nam từ năm 1998 đến nay và rút ra nhữngthành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của nó. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp để công tác giảm nghèo trong thời gian tớiđạt hiệu quả cao và đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam [12].
Luận văn thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội (2015): “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định” của tác giả Châu Văn Hiếu. Tác giả trong nghiên cứu của mình đã vận dụng lý luận chính sách giảm nghèo bền vững để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định, tìm ra những bất cập trong thực 6 hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian qua ở đây và từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo [13]. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục tiêu nghiên cứu Dựa trên những vấn đề lý luận về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững, phân tích đánh giá thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016 - 2020; chỉ ra những mặt đã làm được và những mặt còn tồn tại, hạn chế trong công tác thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục để hoàn thiện thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về đói, nghèo; xóa đói giảm nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững. Khảo sát đánh giá thực trạng về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thời gian qua. Đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện tốt chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu Việc thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 4. Phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi không gian: Luận văn được nghiên cứu tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp luận Luận văn được tiếp cận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin để luận giải về lý luận giảm nghèo và giảm nghèo bền vững trong mối tương quan với hệ thống các chính sách của Nhà Nước; dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giảm nghèo bền vững để nhìn nhận đánh giá khách quan, và định hướng về những nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm: - Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận.
Luận văn cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài. Các thông tin thu thập được có từ hệ thống cơ sở dữ liệu của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, Sở Lao động Thương binh và xã hội, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Mường Ảng, Ngân hành chính sách xã hội tỉnh Điện Biên và huyện Mường Ảng, Cục Thống kê tỉnh Điện Biên. - Phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp Dựa trên các thông tin, số liệu mới nhất mà Luận văn có thể thu thập được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy (từ các cơ quan thống kê, các cuộc điều tra), phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp được sử dụng để phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo bền vững dựa trên các số liệu thu thập được. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.
Ý nghĩa lý luận Luận văn đã tổng quan được những lý luận cơ bản liên quan đến chính sách giảm nghèo bền vững của nhà nước. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chính sách giảm nghèo bền vững gắn với một địa bàn cụ thể, luận văn cung cấp thông tin về kết quả, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; qua đó đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo là nguồn thông tin cho những nghiên cứu tiếp theo, là căn cứ để vận dụng vào thực tiễn thực hiện giảm nghèo bền vững ở huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên trong thời gian tới. - Nâng cao nhận thức của toàn xã hội nói chung, huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên nói riêng về tầm quan trọng của thực thi chính sách giảm nghèo bền vững đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững - Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016-2020 - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm về nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững 1.Quan niệm về nghèo và giảm nghèo 1.Quan niệm về nghèo đói Quan niệm về nghèo đói vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, cho tới nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về nghèo đói. Nhưng nhìn chung, hầu hết các khái niệm không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo trong các khái niệm là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại.
Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức đo lường độ thoả mãn cao hay thấp, mà mức đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Theo Liên hợp quốc (UN), Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [36]. Quan niệm này được tính đến hơn những nhu cầu tối thiểu cho sự đảm bảo về vật chất và nhìn nhận đói nghèo như một khái niệm đa chiều. Ở Việt Nam, việc tiếp cận đo lường theo quan niệm này nhằm mục đích đánh giá một cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân sách hợp lý, hiệu quả hơn. Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu 10 cơ bản giữa các quốc gia, thông qua chỉ số nghèo đa chiều.
Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá một loạt các yếu tố từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, tài sản và các dịch vụ khác. Theo UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ, sâu sắc hơn bức tranh về sự nghèo khổ so với các về thu nhập giản đơn, biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau, từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, quốc gia và quốc tế. Cách tiếp cận đa chiều mới hiện đang được xem xét áp dụng ở nhiều nước nước trên thế giới [36]. Quan niệm về nghèo đói đã không ngừng được mở rộng, trước đây, nghèo đói chỉ liên quan đến thu nhập và chi tiêu thấp, sau này, các khía cạnh đa chiều của nghèo đói được bổ sung.
Có thể đưa ra một khái niệm chung về nghèo đói như sau: Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận. Chuẩn nghèo của Việt Nam Giai đoạn đầu của công cuộc chống nghèo đói, Việt Nam lấy hộ gia đình là đối tượng chính sách, để xác định là hộ đói, hoặc hộ nghèo. Cùng với đó, chính phủ đã đưa ra hai chuẩn: chuẩn đói và chuẩn nghèo. Căn cứ để xác định là hộ đói, hay hộ nghèo; chủ yếu dựa vào thu nhập tính bình quân theo đầu người trong mỗi hộ.
Những năm đầu tính theo lương thực quy gạo, về sau mới tính theo giá trị bằng tiền. Chuẩn đói, chuẩn nghèo được áp dụng qua các giai đoạn: 1993-1995, 1995-1997, 1997-2000.