CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về phát triển bền vững Phát triển bền vững được thể hiện rõ trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals - MDG) mà Liên hợp quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và hợp tác quốc tế để phát triển (Liimatainen, 2013). Phát triển bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội nghị và diễn đàn lớn trên thế giới. Quan niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX, được phổ biến rộng rãi vào cuối những năm 1980, với hàm ý tổng quát là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại nhưng không trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau (United Nations, 1987).
Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janero (Braxin) năm 1992 đã thể hiện tinh thần toàn cầu cao độ và là bước khởi đầu cho khái niệm phát triển bền vững. Đây là quá trình phải đảm bảo có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển là: Phát triển kinh tế phải gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Hội nghị đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các Chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường. Chính vì vậy mà mục đích chính của phát triển địa phương bền vững là thực hiện tốt ba trụ cột bền vững: Tài nguyên môi trường, văn hóa - xã hội, và kinh tế để phát triển một cách đồng đều và hài hòa (Pradhan et al.
Các mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals - SDG) ra đời vào năm 2015, còn được gọi là Mục tiêu toàn cầu, là mục tiêu phổ quát được thiết kế nhằm chấm dứt đói nghèo, bảo vệ hành tinh và đảm bảo rằng tất cả mọi người được hưởng hòa bình và thịnh vượng vào năm 2030 ở mỗi quốc gia thành viên Liên hiệp quốc (United Nations, 2015). Mục tiêu phát triển bền vững là sự tiếp nối của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). SDGs 14 toàn diện hơn so với MDGs và bao gồm 17 mục tiêu, được xác định bởi 169 mục tiêu cụ thể và 232 chỉ tiêu. Những mục tiêu này vượt ra tầm phát triển xã hội, bao gồm cả các mục tiêu đối với biến đổi khí hậu, bất bình đẳng kinh tế, đổi mới, tiêu thụ bền vững, hòa bình, công bằng… Các mục tiêu có thể độc lập nhưng cũng có thể phụ thuộc và tương tác lẫn nhau.
Thành công trong một mục tiêu có thể sẽ giải quyết được một hoặc nhiều vấn đề liên quan đến lĩnh vực khác trong một quốc gia, vùng lãnh thổ (Nilsson et al. Chính vì vậy, khung SDG cần được tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa và cần được quốc gia hóa và địa phương hóa bởi các nhà hoạch định và thực thi chính sách thông qua các năng lực quản trị cần thiết để xem xét để đánh giá trong từng bối cụ thể để xác định sự tương tác tiềm năng của 169 mục tiêu. Bên cạnh đó, mặc dù chúng ta đã có khung phân tích SDG với 169 mục tiêu nhưng các dữ liệu phục vụ thực hiện phân tích các tương tác giữa tất cả các chỉ số SDG hiện đang bị thiếu (Rickels et al. Tuy nhiên khi đi vào phân tích sự tương tác của các mục tiêu SDG này tại một quốc gia, vùng lãnh thổ, hay địa phương, chúng ta sẽ thấy có 2 dạng tương tác của các mục tiêu này.
Dạng thứ nhất là các mục tiêu này tương tác theo hướng hiệp lực (synergies), nghĩa là mục tiêu này hoàn thành sẽ có những tương tác hỗ trợ cho các mục tiêu khác. Trong khi đó dạng thứ hai là các mục tiêu này có tương tác dạng đánh đổi (trade-off), nghĩa là khi một mục tiêu tốt thì có thể ảnh hưởng tiêu cực hoặc cản trở trong việc thực hiện mục tiêu khác. Vì vậy, khi phân tích về phát triển bền vững, chúng ta cần phải làm rõ được những nhóm mục tiêu như đã phân loại ở trên. Các quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương khi thực hiện việc ban hành các chính sách phục vụ phát triển bền vững cần phải đánh giá sự phụ thuộc giữa các mục tiêu và sự tương tác tiềm năng của các mục tiêu trên cả hai phương diện như đã phân tích ở trên cũng như đánh giá các nhóm mục tiêu trong chính các SDG (Lu et al., 2015; Schmidt et al.
Trong bối cảnh dữ liệu không được đầy đủ, việc đánh giá này thực sự là thách thức. Ví dụ khi địa phương 15 muốn điều chỉnh các ứng phó nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đối khí hậu với khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo (Mathy & Blanchard, 2016) hay các địa phương làm thế nào để cân bằng giữa phát triển kinh tế, bền vững môi trường và hòa nhập xã hội vì lợi ích của con người (Ibisch et al., 2016; Sachs, 2012), hoặc thậm chí là cân bằng giữa các mục tiêu SDG như tăng trưởng kinh tế và chỉ số phát triển con người cao hơn đã góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng trên toàn cầu (Pradhan et al., 2013) nhưng cũng dẫn đến tăng lượng khí thải nhà kính và lương thực chất thải (Hiç et al., 2016; Stoll-Kleemann & O’Riordan, 2015). Do đó, trong những trường hợp này, các địa phương cần có các chính sách theo hướng chuyển đổi để thoát khỏi những mối quan hệ bị ràng buộc này nhằm thực hiện thành công chương trình nghị sự SDG. Các mục tiêu phát triển bền vững nhằm giúp chúng ta giải quyết nhiều thách thức mà nhân loại đang phải đối mặt để đảm bảo hạnh phúc, thịnh vượng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Trái ngược với các chương trình nghị sự phát triển thông thường tập trung vào một loạt các hạn chế, các SDG cung cấp một bức tranh tổng thể và đa chiều về các mục tiêu phát triển. Do đó, sự tương tác giữa các SDG có thể gây ra các kết quả khác nhau. Để phân tích các tương tác giữa các SDG, (Pradhan et al., 2017) đã thực hiện hệ thống hóa việc xác định sự hiệp lực và đánh đổi bằng cách sử dụng dữ liệu chỉ số SDG chính thức của 227 quốc gia và vùng lãnh thổ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong số các SDG, mối tương quan tích cực và tiêu cực giữa các cặp chỉ báo cho phép xác định các mô hình toàn cầu cụ thể.
Ví dụ SDG 1 (Không đói nghèo) có mối quan hệ hiệp lực với hầu hết các mục tiêu khác, trong khi SDG 12 (Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm) là mục tiêu thường gắn liền với sự đánh đổi. Việc đạt được chương trình SDG sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc liệu các quốc gia hoặc địa phương có thể tận dụng sự hiệp lực đã xác định giữa các mục tiêu hay không. Ngoài ra, những mục tiêu đánh đổi được chỉ ra sẽ là những trở ngại trong việc đạt được các SDG. Chính vì vậy mà mỗi quốc gia hay địa phương cần phải thảo 16 luận kỹ hơn trong việc ưu tiên thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và cần phải có các chiến lược phù hợp với từng giai đoạn phát triển của quốc gia hay địa phương (Lu et al., 2015; Schmidt et al.
Nghiên cứu về quản trị phát triển bền vững Cho đến nay qua nghiên cứu của tác giả cho thấy các nghiên cứu trong và ngoài nước về quản trị phát triển bền vững chủ yếu ở quy mô quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc nghiên cứu quản trị phát triển bền vững được lồng ghép trong nghiên cứu tổng thể quốc gia hoặc nghiên cứu ở một số khía cạnh riêng như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề quản trị phát triển bền vững toàn diện chung cấp tỉnh. Tại châu Âu, nghiên cứu phát triển bền vững đã đạt được những tiến bộ và đưa ra một số đề xuất hoặc giải pháp liên quan đến các vấn đề về phát triển bền vững ở Châu Âu cũng như cải thiện sự phát triển bền vững trong khu vực cũng. Thực tế cho thấy Liên minh châu Âu đã đóng vai trò quan trọng tại các hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững.
Kể từ năm 2002, Liên minh châu Âu đã có những đề xuất đột phá trong các chiến lược quốc gia về phát triển bền vững ở một số khu vực của châu Âu (Jucker & Mathar, 2015). Một số nước châu Âu đã xây dựng cơ sở pháp lý để theo đuổi thực hiện phát triển bền vững như một ưu tiên chính sách quốc gia trong bối cảnh những người ủng hộ phát triển bền vững thường gây áp lực cho các nhà hoạch định chính sách để cho phép các mục tiêu phát triển bền vững được hòa vào mọi khía cạnh của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội, chẳng hạn như: giáo dục vì sự phát triển bền vững (Adomßent et al., 2014), quản trị khu vực công để phát triển bền vững (Steuer & Hametner, 2013), phát triển bền vững dưới hình thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các doanh nghiệp châu Âu (Miralles‐ Quiros et al., 2017), chính sách việc làm bền vững phát triển (Hinterberger et al., 2002), cải thiện chất lượng môi trường cho phát triển bền vững (Van den Brink et al., 2018), thay đổi sử dụng đất để bền vững phát triển (Mann et al., 17 2018), du lịch vì sự phát triển bền vững hoặc du lịch bền vững (Navarro et al., 2020), và giảm thiểu biến đổi khí hậu để phát triển bền vững (Casado-Asensio & Steurer, 2016). Về những tiến bộ và thành tựu trong phát triển bền vững, các nước Tây Âu chẳng hạn như Đan Mạch, Đức, Phần Lan và Na Uy đã đạt được những tiến bộ to lớn đối với phát triển bền vững (Golusin & Ivanović, 2009), và thường được coi là nhà vô địch về phát triển bền vững ở Châu Âu. Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về những tiến bộ này tại các nước Tây Âu.
Ví dụ như nghiên cứu của Resce & Schiltz, (2021), Škrinjarić, (2020), và Lior et al., (2018) cho thấy các nước Tây Âu, chẳng hạn như Đan Mạch, được xếp hạng cao hơn trong xếp hạng phát triển bền vững so với các nước như Romania và Bulgaria.