Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về nhà nước kiến tạo phát triển 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về nhà nước kiến tạo phát triển Cuốn sách “MITI and the Japanese Miracle; The Growth of Industrial Policy 1925-1975” (1982), Stanford, CA: Stanford University Press, của tác gia Ch.Johnson đã làm rõ: 1) vai trò của Bộ Thuong mai và Công nghiệp (MITI), cơ quan nhà nước giữ vai trò hàng đầu trong quản lý kinh tế đã góp phần làm nên sự thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1925 - 1975; 11) khi phân tích sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, tác giả đã so sánh với nền kinh tế Mỹ, Anh (mô hình nhà nước điều chỉnh) và với các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (KHCN) ở Liên Xô và các nước XHCN (mô hình nhà nước chỉ huy - kế hoạch hóa tập trung) và nhận thấy: ở mô hình nhà nước điều chỉnh, nhà nước có vai trò trong phát triển kinh tế, nhưng vai trò đó thụ động trước thị trường tự do; còn ở mô hình nhà nước chỉ huy - kế hoạch hóa tập trung, nhà nước xây dựng kế hoạch, chỉ huy bằng mệnh lệnh hành chính, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, không tôn trọng quy luật thị trường. iii) Dé phân biệt với các mô hình (nhà nước điều chỉnh, nhà nước chỉ huy trên đây), Ch.Johnson đưa ra khái niệm “nhà nước phát triển” (nhà nước kiến tạo phát triển) như ở Nhật Bản, đồng thời nêu rõ những đặc trưng cơ bản của nó (sự dung hợp những ưu việt của cả hai mô hình nhà nước điều chỉnh và nhà nước chỉ huy).
Bai “The Developmental State: Odyssey of Concept’ (1999) của tác giả Ch.Johnson, trong sach “The Developmental State” cua tac gia Woo-Cumings Meredith, Nxb. Dai hoc Cornell, da tong quan những nhận định va phân tích, tranh luận xung quanh van đề nhận thức về NNKTPT; tong hợp một số kết quả nghiên cứu của các tác giả khác về vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh 12 tế và xã hội ở một số nước như: Alice Amsden trong sách “Asia’s Next Giant: South Korea and Late Industrialization”, Nxb. Dai hoc Oxford, New York, 1989; Robert Wade trong sach “Governing the Market: Economic Theory and the Role of Government in East Asian Industrialization”, Nxb. Dai học Princeton, 1990, v.
Trên co sở đó, Ch.Johnson lý giải những yếu tố bản chat của NNKTPT (tinh hoa, hiệu qua, can thiệp thích ứng với thị trường, có cơ quan trung tâm điều phối quốc gia). Cuốn sách “The Developmental State in History and in the Twentieth Century”, (2003) là cuốn sách của tác giả A. Regency Publications, New Delhi, đã khảo sát vai trò của các nhà nước, chỉ ra các nhà nước kiến tạo từng ton tại trong lịch sử ở một loạt nước phát triển ngày nay như Hà Lan, Đức, Anh, v. và liên hệ với các nhà nước ở Liên Xô và Trung Quốc thời kỳ trước 1980.
Tác giả chỉ ra trong những năm 1980 - 2000, sau Nhật Bản, thì sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, v. đã làm nóng lên sự tranh luận rộng rãi về khái niệm NNKTPT và các lập luận xung quanh sự ưu việt cua nó, thậm chí còn được coi là phát triển quan trọng nhất của khoa học chính trị trong những năm cuối thế kỷ XX.Meyns và Ch.), trong tác pham “Zhe Developmental State in Africa - Problems and Prospecf”, Institute for Development and Peace, INEF-Report 101/2010, Nxb. Duisburg: INEF, năm 2010, đã hệ thống hóa các luận điểm lý thuyết của các tác giả khác nhau về NNKTPT như: i) can thiệp chủ động, phù hợp đối với thị trường (Ch.Johnson); ii) độc lập, tự chủ, gan két (Peter Evans); iii) chính tri là yếu tố chủ đạo (A.Leftwich); iv) sử dụng kinh tế học thé chế (Ha-Joo Chang); kiến tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa (Linda Weiss); kết quả nghiên cứu này có nhiều gợi mở khái quát và trực tiếp cho nghiên cứu về NNKTPT. Bai “How to “do” a developmental state: Political, Organizational, and Human Resource Requirements for the Developmental State”, cua tac giả H.Edigheji công bố trong sách “Constructing a Democratic 13 Developmental State in South Africa - Potentials and Challenges”, Human Science Research Council Press, Cape Town, 2010, đề cập đến các hoạt động tranh luận về chi phí cạnh tranh, điều phối, quan lý xung đột cũng như thảo luận về phát triển kinh tế Đông Á hiệu quả, về khuyến khích các chính sách công nghiệp, công nghiệp hóa gắn với đổi mới thé chế, vấn đề chế độ sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản và Hàn Quốc.
Báo cáo “Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia-Issues, Challenges, and Prospects” của UNDP và Bao cáo cua Hội đồng kinh tế Châu phi của Liên hợp quốc và Liên minh Chau phi “Economic Report on Africa (2011): Governing Development in Africa - the Role of the State in Economic Transformation” cùng nghiên cứu va xuất ban đều có những bàn thảo đến mô hình NNKTPT và là những cơ sở lý luận cho các nghiên cứu sau này ở Việt Nam. Bài của tác gia Adrian Leftwich trên The Journal of Development Studies “Bringing Politics Back in: Towards a Model of the developmental state” va sach “Embedded Autonomy, State and industrial transformation” cua tac gia P. Dai hoc Princeton University Press, v. da phan tich vai tro cua nhà nước các trường hợp phát triển kinh tế than ky của Dai Loan và Han Quốc.
Ngoài ra, các công trình: “Late Marketisation versus Late Industrialisation in East Asia”, (2005), cua tác giả Lee K., Asian Pacific Economic Literature, 19(1), 42-59, 2005; “Towards a Democratic Developmental State”, (2006), cua tac gia G.White IDS Bulletin, 37(4), 60-70, 2006; “Democracy and State Capacity: Exploring a J-Shaped Relationship, Governance” (2008) của các tac gia H.Hadenius, An International Journal of Policy, Administration and Institutions, 21(1), 1-24, 2008; “Embedded Autonomy, State and industrial transformation ”(1995), của tac giả P.Avans, Princeton University Press, 1995; “The Origin of Power, Prosperity, and Poverty: Why Nations Fails”, (2012), sách cua các tac giả D. Randon House; “Breaking the Mould. An Institutionalist 14 Political Economy Alternative to the Neo-liberal Theory of the Market and the State”, (2002a), Cambridge Journal of Economics, 26(5); “Kicking Away the Ladder. Development Strategy in Historical Perspective”, (2002b) London: Anthem Books cua cung tac gia Ha-Joon Chang; “How to ‘do’ a developmental state: Political, Organizational, and Human Resource Requirements for the Developmental State’, (2010), trong O.), Constructing a Democratic Developmental State in South Africa - Potentials and Challenges (Human Science Research Council Press, Cape Town, 2010, cua tac gia Chang, Ha-Joon; “Embedded Autonomy.
States and Industrial Transformation”, (1995), cua tac gia Evans, Peter B. (1995), Princeton: Princeton University Press; “States of Discord”, (2002) cua tac gia TH.Friedman, March/April 2002. “Political Institutions and Economic Performance: The Government-Business Relations in Japan, South Korea, and Taiwan”, (1985) cua tac giả Ch.Johnson trong Asian Economic Development: Present and Future, eds. Robert Scalapino, Seizaburo Sato, and Jusuf Wanandi (Berkeley: University of California Press, 1985); “The Non socialist NICs: East Asia”, (1986), cua tac giả Ch.Johnson trong International Organization, Số 40:2; “The Logic of the Developmental State”, (1991), của tác gia Z.Onis, Comparative Politics.l; “Late industrializers, late democratic: developmental states in the Asia-Pacific”, (1996), cua tac gia M.Thompson, Third World Quarterly, 17(4), v.
ở những mức độ khác nhau đều dé cập đến vai trò của nha nước trong mối quan hệ với phát triển, gợi mở cho nghiên cứu về NNKTPT. Các tác pham tiêu biéu nêu trên là những đóng góp to lớn cả về học thuật cũng như tổng kết, đánh giá thực tiễn về vai trò của NNKT trong phát triển xã hội ở một số quốc gia (tập trung nhất là ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,. và cả ở một số nước châu Phi) và được tiếp tục nghiên cứu cho đến ngày nay, với các nội dung cơ bản là: bàn vỀ sự can thiệp chủ động, tích cực của nhà nước vào thị trường thông qua đường lối, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế, cùng với đó là bộ máy hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả với tam nhìn xuyên suốt, nhất 15 quán đã được thực tiễn kiểm chứng, chang hạn như: mô hình NNKTPT Đông A đã phát huy tốt chức năng “kiến tạo” và “chủ động dẫn dắt” nền KTTT bằng các ưu tiên chính sách đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn thông qua các doanh nghiệp nhà nước là chủ yếu; tuy nhiên, đã có những thất bại như thảm họa suy thoái môi trường từng xảy ra ở Nhật Bản trong những năm 1950 và 1960 (ô nhiễm Thủy ngân; ô nhiễm Lưu huỳnh điôxit và Nito điôxit,.), hay sự khủng hoảng tài chính của “những con Hồ Đông Á” ở những năm 1997-2000 là những bài học quý giá cho kiến tạo phát triển bền vững. Theo đó, cần có những thay đôi gi hay những khác biệt nào trong nhận thức về NNKTPT và vai trò của nó đối với phát triển bền vững hiện nay? 1.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước về nhà nước kiến tạo phát triển Bài “Việt Nam trước thách thức xáy dung Nhà nước kiến tạo phát triển ” (2009) trên http://www.net ngày 16/5/2009, của tac giả Vũ Minh Khương đã khái quát vai trò then chốt thuộc về chất lượng thể chế, các yếu tố quyết định hướng lựa chọn thé chế phát triển và thách thức đối với Việt Nam, khắc phục nhà nước cai tri - hủ bại, nhận diện các đặc trưng của nhà nước theo hướng kiến tạo phát triển ở Việt Nam. Bài “Ban thêm về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ” (2009), của tac giả Phạm Hưng Hung đăng trên http://www.net ngày 26/5/2009, luận giải, gợi ý về nội dung cơ bản để xây dựng mô hình NNKTPT và nêu rõ phải có: 1) nhà lãnh đạo và đội ngũ hoạch định chiến lược tải giỏi, có tinh thần yêu nước mãnh liệt, tận tụy, tâm huyết với sự phat triển đất nước, đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân; ii) đội ngũ lãnh đạo phải có quyền tự tri, độc lập tương đối trong việc theo đuôi các lợi ích quốc gia (có quyết tâm cao nhất trong việc phát triển và đưa đất nước chuyền mình, cất cánh), mặc dù có thé làm ảnh hưởng đến các lợi ích của các nhóm cục bộ; iii) có bộ máy cán bộ công chức đủ năng lực và tương đối độc lập; iv) bộ máy nhà nước độc lập và đủ mạnh phải được đặt trong một xã hội tương đối “yếu” hơn, đảm bảo khả năng 16 quản lý, kiểm soát một cách có hiệu quả các lợi ích tư nhân; v) có tính chọn lọc cho phát triển trong định hướng cũng như trong chiến lược phát triển; bảo đảm tinh hợp pháp và kết quả thực hiện của nhà nước kiến tạo; vi) có chế độ tuyển dụng nhân tài rất nghiêm ngặt, v. Cuốn sách “Quản lý nhà nước về kinh tế” (2015), Nxb.