Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG XÃ THẠNH MỸ TÂY, HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG 1. Tổng quan về xóa đói giảm nghèo 1. Xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững - Các khái niệm cơ bản: về Đói, Nghèo, Xóa đói, Giảm nghèo, Giảm nghèo bền vững, Chính sách xóa đói giảm nghèo… Có nhiều quan niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên phương diện và tiêu chí khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Những định nghĩa về nghèo đói được thay đổi nhiều lần theo thời gian và không gian khác nhau.
Bởi ranh giới của nghèo đói là không được hưởng hoặc được hưởng rất ít và không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, việc đánh giá đúng mức độ nghèo đói, trên thế giới người ta thường dùng khái niệm “nghèo khổ”, nhận định nghèo khổ qua 4 khía cạnh khác nhau: (Dương Văn Anh, 2016). Về thời gian: phần lớn người nghèo khổ là những người sống dưới mức “chuẩn” trong suốt một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ “tình thế” như những người thất nghiệp, hoặc do khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội, rủi ro. Về không gian: về mặt này thì nghèo đói diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, nơi có nhiều người sinh sống.
Về giới: theo thống kê thì những người nghèo đói là phụ nữ đông hơn là nam giới, Trong những hộ nghèo nhất thì đa phần là do người phụ nữ là 8 Luan van chủ hé hay chủ gia đình, Còn trong những hộ nghèo đó do người đàn ông làm chủ hộ thì người phụ nữ lại khổ hơn nam giới. Về môi trường: đối với những nước ở vùng sinh thái khắc nghiệt thì tỷ lệ người nghèo khá đông, ở những nước này tình trạng nghèo đói và sự xuống cấp về môi trường sinh thái ngày một trầm trọng thêm. Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng, “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận thì theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Có một số khái niệm về nghèo đói khác mang tính kinh điển hơn, triết lí hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO). Ông Amartya Sen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn vào quá trình tham gia phát triển cộng đồng” trong tác phẩm Poverty and Famines (Nghèo nàn và Nạn đói) năm 1981. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới. Ở việt Nam chia nghèo đói ra làm 2 dạng là nghèo và đói được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng được nghiên cứu chuẩn nghèo đa chiều 19/11/2015 của Thủ Tướng chính phủ).
Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. 9 Luan van Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Xoá đói là làm cho tình trạng một bộ phận người dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Giảm nghèo là làm cho một bộ phận người dân nghèo nâng mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.
Nói cách khác giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận người dân nghèo lên mức sống cao hơn. Giảm nghèo bền vững là làm cho người dân đạt được mức độ thoả mãn những nhu cầu cơ bản và có mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo, duy trì mức độ thoả mãn đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro trên mọi phương diện đời sống. Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đến các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết các vấn đề nghèo đói thức hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp. Chuẩn mực xác định nghèo đói 1.
Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (purchasing 10 Luan van power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: - Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình. - Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.
- Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo. Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: - Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0. - Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày. - Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.
- Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày. - Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày. Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang của sức mua. Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP).
- Phương pháp sức mua tương đương (PPP): Là phương pháp sử dụng rộng rãi so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, để đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD. WB sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung theo (PPP): 11 Luan van - Đối với các nước có thu nhập thấp: < 1 USD/ngày. - Đối với các nước có thu nhập trung bình thấp: < 2USD/ngày. Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm.
Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan (Dương Văn Anh, 2016). Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam Trước ngày 19/11/2015 khi chưa có kế hoạch rà soát nghèo theo chuẩn đa chiều (tức đơn chiều) thì chỉ rà soát theo thu nhập người dân, dễ dẫn đến quan liêu trong điều tra (Ví dụ như đưa người thân quen vào hộ nghèo), nhưng từ khi có kế hoạch điều tra theo chuẩn đa chiều thì điều tra cụ thể các cơ sở vật chất của hộ dân hiện đang có, kết quả cộng lại thành điểm, nếu đạt chuẩn nào thì họ sẽ thuộc đối tượng đó. Bảng 1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia qua từng giai đoạn) Chuẩn nghèo đói Phân loại người nghèo Mức thu nhập bình qua các giai đoạn đói quân/người/tháng Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg 1993 - 1995 (Mức thu Đói (KV thành thị) Dưới 13Kg nhập bình quân quy ra Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15Kg gạo) Nghèo (KV thành thị) Dưới 20Kg 1996 - 2000 (Mức thu Đói (tính cho mọi khu Dưới 13Kg (45.000 nhập quy ra gạo tương vực) đồng) 12 Luan van đương với số tiền) Nghèo (KV nông thôn, Dưới 15Kg (55.000 miền núi, hải đảo) đồng) Nghèo (KV nông thôn, Dưới 20Kg (70.000 đồng bằng trung du) đồng) Nghèo (KV thành thị) Dưới 25Kg (90.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, Dưới 80.000 đồng miền núi, hải đảo) 2001 - 2005 (mức thu Nghèo (KV nông thôn, Dưới 100.000 đồng nhập tính bằng tiền) đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 900.000 đồng Nguồn: Tổng hợp từ năm 1993 -2020 Phương pháp chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo cụ thể: Cấp Trung ương, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã. 13 Luan van QUỐC HỘI Chú thích: - Ban hành văn bản, chỉ đạo cấp trực thuộc thực hiện.
- Thành lập Ban chỉ đạo cùng cấp.