Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản Nghèo: Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất để sản xuất hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh (theo tổ chức Liên hiệp quốc).
Đây là một khái niệm cơ bản nhất về nghèo có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá phổ biến về nghèo. Sự khác biệt, chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, trình độ phát triển của các vùng miền. Vấn đề quan trọng mà khái niệm này đưa ra đó chính là nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội, nếu không được thỏa mãn thì họ là người nghèo. Dân tôc thiểu số: Là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi, lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vùng dân tộc thiểu số: Là địa bàn có đông các DTTS sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giảm nghèo bền vững: Là cụm từ được sử dụng khá phổ biến nhưng đến nay GNBV chưa có khái niệm cụ thể, tuy nhiên căn cứ vào một số Văn bản của Nhà nước ban hành có liên quan đến lĩnh vực giảm nghèo (Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015…) thì GNBV được hiểu là giảm nghèo và phát triển bền vững, điều đó có nghĩa là tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của các yếu tố tự nhiên, xã hội. Việc giảm nghèo phải đảm bảo được sự phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực KT, XH, môi trường, thỏa mãn các dịch vụ xã hội, 9 Luan van mức thu nhập cao hơn mức nghèo và không có nguy cơ tái nghèo trong thời gian dài. GNBV phản ánh thông qua các tiêu chí: Thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Giảm nghèo Thu nhâp ̣ tăng và duy trì ở mức cao bền vững Thoát nghèo và không tái nghèo Chính sách giảm nghèo: Là tất cả các giải pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo , nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững: Là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về chính sách giảm nghèo bền vững thành hiện thực đến với các đối tượng quản lý là các hộ nghèo nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Để chính sách thật sự mang lại hiệu quả thì khâu tổ chức thực hiện chính sách phải cơ bản đảm bảo đúng quy trình và tuần tự gồm các bước: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách: Đây là công đoạn đầu tiên trong việc tổ chức thực hiện chính sách và ở bước này cần phải xác định cụ thể nội dung, nhiệm vụ trong tổ chức điều hành, nguồn lực, vật lực cho việc thực hiện chính sách, kế hoạch kiểm tra đôn đốc, thời gian thực thi chính sách. Phổ biến tuyên truyền chính sách: Trên cơ sở nắm vững nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu của chính sách người làm chính sách sẽ tổ chức tuyên truyền đến người dân, người thụ hưởng chính sách bằng nhiều hình thức khác nhau. Đây là hoạt động quan trọng, có vai trò gắn kết cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách.
10 Luan van Phân công phối hợp thực hiện chính sách: Ở bước này cần xác định được năng lực chuyên môn cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp thực hiện chính sách, việc phân công phối hợp phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý phát huy được các thế mạnh, tính tích cực, trách nhiệm của các cơ quan phối hợp, hạn chế trùng lắp trong thực hiện nhiệm vụ. Duy trì, điều chỉnh, theo dõi kiểm tra đôn đốc việc thực hiện chính sách: Duy trì thực hiện chinh sách là hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách được thực hiện và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế. Trong quá trình thực hiện chính sách còn tùy thuộc vào thực tiễn, đôi khi chính sách còn những bất cập chưa phù hợp sẽ có những điều chỉnh nhất định, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế đang đặt ra để chính sách được tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. Việc theo dõi kiểm tra, đôn đốc giúp phòng ngừa, phát hiện các vấn đề liên quan đến công tác quản lý, tổ chức thực hiện, các vi phạm nếu có, để đề xuất các giải pháp chấn chỉnh phù hợp, góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.
Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm: Đây là khâu được thực hiện trong từng giai đoạn thực hiện chính sách, hoặc cả một quá trình tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách; đồng thời đánh giá việc chấp hành, thực hiện của các đối tượng thụ hưởng (đôi tượng thụ hưởng trực tiếp và đối tượng gián tiếp) chính sách để từ đó rút kinh nghiệm, làm rõ các ưu điểm, nhược điểm trong tổ chức, phối hợp thực hiện chính sách. Các tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều đang áp dụng Quan điểm mới tiếp cận về giảm nghèo ở nước ta xuất hiện khi bối cảnh kinh tế vĩ mô bắt đầu có những diễn biến bất thường vào cuối năm 2007, lạm phát tăng cao, khủng hoảng kinh tế kéo dài từ năm 2009. Trong khi đó những tác động, cảnh báo từ biến đổi khí hậu, rủi ro từ thiên nhiên, cũng ngày càng được đánh giá đúng với khả năng ảnh hưởng tới người nghèo và các mục tiêu giảm nghèo, bên cạnh đó còn diễn biến phức tạp của thiên tai, dịch bệnh…, dù muốn hay không đây cũng là những nhân tố mà chính sách giảm nghèo đang và sẽ phải tính đến nếu muốn đạt được kết quả GNBV. Chuẩn nghèo giai đoạn hiện nay đang áp dụng theo hướng kết 11 Luan van hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Về thu nhập: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
Về mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về thực hiện chính sách giảm nghèo ở vùng DTTS hiện nay Cùng với các nỗ lực thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách giảm nghèo nói chung và các chính sách giảm nghèo hướng đến đồng bào DTTS nói riêng, nhằm phát huy nội lực trong cộng đồng người DTTS và tăng hiệu quả hỗ trợ từ bên ngoài, góp phần cải thiện đời sống của các hộ nghèo người DTTS trong phạm vi cả nước. Quan điểm trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) Nhìn lại chặng đường 30 năm đổi mới, Việt Nam với những quyết tâm cao, sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đưa nước ta là một trong những nước nghèo nhất thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2009; đây là bước đánh dấu kết quả giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế đáng kể, hoàn thành hầu hết các mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ, trong đó có mục tiêu về GNBV.
Về thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chính sách GNBV đi đôi với khuyến khích làm giàu chính đáng và tự lực vươn lên. Đã đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các hộ nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào DTTS thuộc huyện nghèo; thu hẹp chênh lệch về mức 12 Luan van sống và an sinh xã hội so với bình quân chung cả nước. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện KT - XH của đất nước. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1,5-2% /năm; các huyên, xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/năm theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn.
Năm 1993 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 58,1%, đến năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, năm 2013 còn 7,8%, năm 2014 còn 5,8-6%, phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%, trong vùng ĐBKK còn dưới 30%. Thành tựu về giảm nghèo của nước ta đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, đánh giá cao. Dù đã đạt được những thành tựu đáng kể về công tác giảm nghèo nhưng vẫn còn những tồn tại, thách thức về nhiều mặt: giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng nghèo vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn và DTTS. Chưa hình thành cơ chế đồng bộ về giảm nghèo đa chiều, đa mục tiêu.