Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Nghệ An Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Nghệ An 5 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Liên quan đến hoạt động quản lý TC, các nhà nghiên cứu trƣớc đây hầu hết đã tập trung vào kiểm tra, điều tra và mô tả hành vi của các DN nhỏ và vừa trong thực tiễn quản lý TC.Các nghiên cứu nƣớc ngoài Các nghiên cứu gần đây nhƣ Sudhindra Bhat (2008) và Great Britain (2011). Great Britain (2011) nhấn mạnh mục tiêu của quản lý tài chính bao gồm cả thanh khoản, lợi nhuận và tăng trƣởng.
Do đó, các lĩnh vực cụ thể mà quản lý tài chính cần phải đƣợc quan tâm tới là quản lý thanh khoản (dòng tiền, quản lý vốn lƣu động), quản lý lợi nhuận (phân tích lợi nhuận, kế hoạch lợi nhuận), và quản lý phát triển (lập kế hoạch và quyết định nguồn vốn). Sudhindra Bhat (2008) xem xét các lĩnh vực cụ thể của quản lý tài chính bao gồm tất cả các hoạt động có liên quan đến các mục trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Các lĩnh vực cụ thể quản lý tài chính bao gồm: quản lý vốn lƣu động, quản lý tài sản dài hạn, quản lý nguồn tài chính, lập kế hoạch tài chính, lập kế hoạch và đánh giá khả năng sinh lời. Ehrhardt (2008) định nghĩa quản lý tài chính dựa trên huy động và sử dụng nguồn vốn: Quản lý tài chính là quan tâm đến việc nâng cao các quỹ cần thiết để tài trợ cho tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, việc phân bổ đề tài sợ tiền giữa các ứng dụng cạnh tranh, và với việc đảm bảo rằng các khoản tiền đƣợc sử dụng hiệu quả và hiệu quả trong việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức đề ra.
Ehrhardt (2008), quản lý tài chính hiện đại liên quan đến việc lập kế hoạch, kiểm soát và trách nhiệm ra quyết định gồm: 6 z - Các loại và các nguồn tài chính một doanh nghiệp có thể sử dụng, làm thế nào có thể đƣợc tiếp cận nó, và làm thế nào để lựa chọn các nguồn tài chính trong số đó. - Các nhu cầu tài chính có thể đƣợc sử dụng trong một doanh nghiệp và làm thế nào để lựa chọn những ngƣời có khả năng quản lý tài chính sao cho doanh nghiệp có lợi nhất. - Các phƣơng tiện khác nhau để đảm bảo rằng tài chính đƣợc phân bổ cho các hoạt động cụ thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, dự kiến phân bổ lợi nhuận doanh nghiệp ra sao. Nói chung, các tác giả trƣớc đó đã có sự khác biệt trong ý kiến của các quyết định quan trọng trong quản lý tài chính.
Kent Baker, Gary Powell (2009) chỉ ra ba loại quyết định quản lý tài chính của một công ty phải thực hiện trong kinh doanh: (1) quyết định ngân sách, (2) các quyết định tài chính, và (3) các quyết định liên quan đến tài chính ngắn hạn và liên quan đến vốn lƣu động ròng. Tƣơng tự nhƣ vậy, PK Jain (2007) cũng chỉ ra ba quyết định tài chính chủ yếu bao gồm các quyết định đầu tƣ, quyết định tài chính và quyết định chia cổ tức. Sudhindra Bhat (2008) đề xuất một cách khác để xác định các quyết định quan trọng của quản lý tài chính là nhìn vào bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp. Có nhiều quyết định liên quan đến các mục trên bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, chúng đƣợc phân loại thành ba loại chính: các quyết định đầu tƣ, quyết định tài chính và các quyết định phân phối lợi nhuận. - Quyết định đầu tƣ : (1) liên quan đến số lƣợng và thành phần của đầu tƣ của doanh nghiệp trong tài sản ngắn hạn (tiền mặt, cổ phiếu, nợ,.) và tài sản cố định (thiết bị, nhà xƣởng,.), và (2) liên quan đến việc cân bằng giữa hai loại tài sản trên. - Quyết định tài chính: (1) liên quan đến các loại tài chính sử dụng để mua tài sản, và (2) liên quan đến việc đạt đƣợc một sự cân bằng giữa các nguồn ngắn hạn và dài hạn, và giữa nợ và nguồn vốn chủ sở hữu. 7 z - Quyết định phân phối lợi nhuận: (1) liên quan đến tỷ lệ lợi nhuận thu đƣợc nên đƣợc giữ lại trong một doanh nghiệp để tài trợ cho phát triển và tăng trƣởng, (2) và tỷ lệ có thể đƣợc phân phối cho các chủ sở hữu.
Tóm lại, quản lý tài chính là quan tâm đến nhiều lĩnh vực cụ thể. Có lẽ là bảng cân đối của một doanh nghiệp có thể chứng minh làm thế nào để nhận ra các khu vực này bao gồm: - Tài sản ngắn hạn hoặc quản lý vốn lƣu động. - Tài sản cố định hoặc quản lý tài sản tồn tại lâu dài. - Kinh phí quản lý.
- Ngân sách và lập kế hoạch tài chính. - Đòn bẩy và cơ cấu vốn. - Phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp. - Phân phối lợi nhuận (cổ tức và giữ lại chính sách thu nhập).
Ở các nghiên cứu trƣớc đó, hầu hết các tác giả và nhà nghiên cứu tiếp cận các lĩnh vực cụ thể của quản lý TC theo các cách thức khác nhau. Các lĩnh vực cụ thể của quản lý TC đƣợc các nhà nghiên cứu nhƣ Walker và Petty (1978), Barrow (1988), Meredith (1986), Cohen (1989), English.W (1990) và McMahon (1995) tiến hành hành nghiên cứu. Walker và Petty (1978) định nghĩa các lĩnh vực chính của quản lý tài sản bao gồm lập kế hoạch (lập kế hoạch và quản lý tiền mặt, dự báo tài sản bắt buộc, lập kế hoạch lợi nhuận), đòn bẩy TC, ra quyết định đầu tƣ, quản lý vốn hoạt động (quản lý tiền mặt, khoản phải thu và hàng tồn kho) và các nguồn TC (TC ngắn hạn và dài hạn, TC trung gian). Barrow (1988) nhấn mạnh đến một quan điểm thực tế hơn là lý thuyết.
Thay cho việc xác định các lĩnh vực quản lý TC cụ thể, ông liệt kê các công cụ phân tích TC bao gồm các biện pháp quản lý kinh doanh; xác định khả năng sinh lợi; kiểm soát vốn hoạt động (hoặc khả năng thanh khoản); kiểm soát tài sản cố định, chi phí; khối lƣợng; các quyết định giá và lợi nhuận, các kế hoạch kinh doanh và ngân sách. 8 z Meredith (1986) nhấn mạnh vào các hệ thống thông tin nhƣ là cơ sở cho việc quản lý TC bao gồm các hồ sơ và báo cáo quản lý TC. Điều này đƣợc xem là rất quan trọng bởi vì chủ DN – các nhà quản lý hoặc các nhà quản lý TC thấy khó quyết định khi có thể nếu họ thiếu thông tin TC. Cohen (1989) tập trung vào quản lý vốn hoạt động và các công cụ quản lý TC nhƣ là phân tích tỷ số, xác định khả năng sinh lợi và phân tích sinh kế.W (1990) nhấn mạnh các kết quả quản lý TC bao gồm khả năng thanh khoản, khả năng sinh lợi và tăng trƣởng.
Do vậy, các lĩnh vực cụ thể có liên quan đến quản lý TC là quản lý khả năng thanh khoản (dự thảo luồng tiền mặt, quản lý vốn hoạt động), quản lý khả năng sinh lợi (phân tích lợi nhuận, lập kế hoạch lợi nhuận) và quản lý tăng trƣởng (hoạch định nguồn vốn và các quyết định). McMahon (1995) nghiên cứu các lĩnh vực cụ thể của quản lý TC bao gồm tất cả các lĩnh vực liên quan đến các hạng mục trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Các lĩnh vực cụ thể của quản lý TC bao gồm quản lý vốn hoạt động, quản lý tài sản dài hạn, quản lý các nguồn TC, lập kế hoạch cơ cấu TC, lập kế hoạch và đánh giá khả năng sinh lợi. Có thể tổng kết các nội dung của quản lý TC đƣợc các nghiên cứu đề cập đến nhƣ sau: • Quản lý tài sản lƣu động hoặc vốn hoạt động • Quản lý tài sản cố định hoặc quản lý tài sản dài hạn • Quản lý quỹ • Ra quyết định đầu tƣ • Lập kế hoạch và dự thảo ngân sách tài chính • Đòn bẩy và cơ cấu vốn • Hệ thống thông tin kế toán • Phân tích tài chính và đánh giá kết quả kinh doanh • Phân phối lợi nhuận (chính sách lợi tức và lợi nhuận giữ lại).
Các nghiên cứu trong nƣớc 9 z Ở Việt Nam, đề tài về quản lý tài chính đƣợc khá nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, tiến hành nghiên cứu dƣới nhiều góc độ. Đây là vấn đề thu hút và nhận đƣợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong nƣớc. Các công trình khoa học trong lĩnh vực này khá phong phú với ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau tùy theo cách tiếp cận. Các bài báo, tạp chí bàn về vấn đề tài chính công và quản lý chi tiêu công rất phong phú; đối tƣợng nghiên cứu khá rộng và nhiều giải pháp đƣợc đề xuất mang tính định hƣớng cho toàn bộ hệ thống.
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có thể kể đến rất nhiều bài viết: Trong đề tài: “Chiến lƣợc đổi mới cơ chế quản lý Tài sản công giai đoạn 2001-2010”, 2000, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội. Nguyễn Văn Xa đã đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản công (trong đó có Tài sản công trong khu vực HCSN ở Việt Nam) từ năm 1995 đến năm 2000, từ đó đề ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý Tài sản công trong khu vực HCSN đến năm 2010. Tuy vậy, do yếu tố thời gian, hệ thống số liệu của đề tài đã trở nên lạc hậu. Trong đề tài: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp, 2002, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội”.
TS Phạm Đức Phong đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý Tài sản công đối với các tài sản phục vụ trực tiếp cho hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc. Song, trong công trình này, tác giả cũng chƣa quan tâm đánh giá hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý Tài sản công.