phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu 2 chương, 6 tiết. 12 z Chươ 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ VÀ VỊ TRÍ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ 1. Hệ thố chí h trị và đặc đ ểm hệ thố chí h trị V ệt Nam 1. á n ệm Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, một cấu trúc hệ thống ổn định bao gồm các thể chế có quan hệ với nhau về mục tiêu, chức năng trong việc ra quyết định chính trị, trong việc thực thi quyền lực chính trị.
Hệ thống chính trị được hình thành trong nền chính trị hiện đại, từ khi ra đời nền dân chủ tư sản, xuất hiện các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, các lực lượng xã hội đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước, xuất hiện các nhóm lợi ích tác động vào quyền lực nhà nước để thực hiện lợi ích của mình. Vì vậy, việc ra quyết định chính trị, thực thi quyền lực chính trị không chỉ do nhà nước thực hiện mà còn có vai trò của đảng cầm quyền, vai trò của các nhóm lợi ích chính trị - tạo thành hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhà nước v n giữ vai trò cơ bản, quan trọng nhất. Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta s dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”.
Hệ thống chính trị đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước đổi mới quan trọng trong tư duy chính trị của Đảng ta. Hệ thống chính trị hiện nay là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản trong các 13 z giai đoạn trước đổi mới, đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.
Về cơ bản, khái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước, Đảng Cộng sản cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp của nhân dân và mối quan hệ tác động qua lại cùng với sự vận hành của các yếu tố đó nh m bảo đảm quyền lực của nhân dân. Đặc đ ểm cơ b n của ệ t ốn c ín tr V ệt am - Hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Mục đích của hệ thống chính trị ở Việt Nam là nh m lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. - Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay mang những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Do đó hệ thống chính trị đang trong quá trình hoàn thiện về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và đội ngũ cán bộ. - Trong cấu trúc của hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị. Do đó, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành hiến pháp, pháp luật.
Mặt khác, hệ thống chính trị do Đảng thành lập, mang bản chất giai cấp công nhân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, do đó Đảng đồng thời lãnh đạo hệ thống chính trị. Mọi tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nh m phấn đấu vì mục tiêu chung là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công b ng, văn minh. - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là trung tâm quyền lực của hệ thống chính trị. Nhà nước quản lý xã hội b ng pháp luật.
14 z - Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước; thông qua đó quyền làm chủ của nhân dân lao động được phát huy. Trong quá trình vận hành, m i thành viên của hệ thống chính trị hoạt động với chức năng riêng. Song hệ thống chính trị là một chỉnh thể, m i thành viên chỉ tồn tại với tư cách là một bộ phận của một cấu trúc chung, tác động theo cùng một phương, cùng tạo thành một tổng hợp lực hướng vào một mục đích chung. M i thành viên của hệ thống chính trị có quyền hạn, chức trách và nhiệm vụ riêng.
Nhưng những quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ ấy không đối lập nhau. Chúng vừa có tính đối thoại, trao đổi, tranh luận, vừa có tính hợp tác tương h , trong đó m i thành viên hoạt động tương đối độc lập, nhưng lại thống nhất với các thành viên khác trên một nền chung là cùng vì lợi ích của toàn thể, của cả quốc gia, dân tộc. Tính thống nhất của hệ thống chính trị không cho ph p tuyệt đối hóa vị trí, vai trò của bất cứ một thành viên nào trong hệ thống; mặt khác lại đòi hỏi phải khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Chỉ có như thế mới xây dựng được một xã hội dân chủ, trong đó mọi năng lực sản xuất vật chất và tinh thần của các tầng lớp, giai cấp xã hội đều được phát huy; đồng thời bảo đảm cho xã hội có một nền tảng vững chắc là sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; và cũng chỉ như thế mới loại trừ được sự độc quyền, chuyên chế, vừa loại trừ được mọi hình thức chính trị đa nguyên và dân chủ cực đoan.
Hệ thống chính trị là phương tiện của nhân dân để thực hành dân chủ. Do vậy, m i tổ chức thành viên của hệ thống chính trị trước hết phải là một thiết chế dân chủ. Hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn được tổ chức và hoạt động theo một cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân địa phương 15 z dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn, hệ thống đó bao gồm các tổ chức: Đảng bộ các xã, phường, thị trấn; chính quyền (hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn); các đoàn thể (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh). Đặc đ ểm và hữ t êu chí đ h hệ thố chí h trị ở cơ sở xã, phườ , thị trấ vữ mạ h 1.
á n ệm v đặc đ ểm của ệ t ốn c ín tr ở cơ sở thống chính trị ở cơ sở là khái niệm bao gồm tổ chức cơ sở đảng, chính quyền nhân dân (ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn), các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp xã; các yếu tố đó có mối quan hệ gắn bó chặt ch với nhau nh m thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cấp xã, phường, thị trấn. - Hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp thấp nhất của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay trong hệ thống 4 cấp gồm: cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện. - Hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân; là nơi triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên. - Hệ thống chính trị ở cơ sở là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, nhiệm vụ của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cấp trên đều do cấp cơ sở chuyển tải, thông tin, triển khai thực hiện, tổ chức thành các phong trào trong các tầng lớp nhân dân. Do đó thông qua hệ thống chính trị ở cơ sở, nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối, chính sách, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, về cán bộ của Đảng, Nhà nước để 16 z từ đó đề ra các chỉ thị, nghị quyết, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với lợi ích chính đáng của nhân dân, sắp xếp, bố trí cán bộ, khen thưởng, k luật cán bộ. Tuy nhiên không nên hiểu hệ thống chính trị ở cơ sở chỉ là khâu trung gian đơn thuần, bởi vì hệ thống chính trị ở cơ sở ngoài các chức năng cầu nối còn có nhiều chức năng khác, trong đó có nhiệm vụ trực tiếp phục vụ nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực. - Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Theo phân cấp, hệ thống chính trị cơ sở là nơi triển khai các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, nhiệm vụ của cấp trên để lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý, huy động, s dụng các nguồn lực về đất đai, tài nguyên khóang sản, lao động, tài chính nh m tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch; xây dựng nông thôn mới; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, giữ gìn an ninh, quốc phòng ở địa phương. Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, có khi xảy ra xung đột lợi ích giữa các nhóm dân cư với nhau, giữa người dân với cán bộ, chính quyền.