CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU CQ PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỢP LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1. Tổng quan các công trình có liên quan 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cảnh quan phục vụ mục đích sử dụng hợp lý nguồn TNTN và phát triển KTXH trên thế giới CQ học là một bộ môn khoa học về địa lý tự nhiên tổng hợp, những kiến thức cơ sở của địa lý tự nhiên đại cương là điều kiện để nghiên cứu CQ học. Kể từ khi ra đời đến nay, CQ học đã có nhiều đóng góp vào mục đích thực tiễn, có quan hệ trực tiếp tới vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ và bảo vệ TNTN.
CQ học đã phát triển một cách nhanh chóng, ngày càng hoàn thiện về cơ sở khoa học và trở thành một ngành quan trọng của địa lý tự nhiên hiện đại nghiên cứu về các thể tổng hợp địa lý tự nhiên đáp ứng được các yêu cầu, mục đích khai thác tối ưu lãnh thổ và sử dụng hợp lý TNTN. Tiền đề cơ bản của việc hình thành khoa học CQ là mối quan hệ tương hỗ, phức tạp giữa giới vô sinh và giới hữu sinh và những đòi hỏi của hoạt động KTXH. Đây là cơ sở để dẫn đến nghiên cứu tổng hợp của khoa học địa lý nhằm giải quyết vấn đề muốn khai thác tự nhiên thì cần phải hiểu biết rõ ràng, đầy đủ các mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên và các tổng hợp thể địa lý tự nhiên lãnh thổ cụ thể. Đối tượng nghiên cứu của CQ học là lớp vỏ địa lý bao gồm thạch quyển, thủy quyển, thổ nhưỡng quyển, sinh quyển, khí quyển xâm nhập vào nhau và được cấu tạo từ các khu vực lớn, nhỏ được phân hóa ra trong lịch sử phát triển của Trái Đất.
Các khu vực lớn nhỏ này là các địa tổng thể hay các tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên. Cảnh quan học có nhiệm vụ nghiên cứu các địa tổng thể, tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần vật chất và năng lượng cấu tạo nên chúng và cả những mối quan hệ biện chứng giữa các địa tổng thể với nhau. luan an 7 Cảnh quan học được ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Châu Âu và Bắc Mỹ với các công trình nghiên cứu về sự phân chia tự nhiên bề mặt đất của nhiều nhà Địa lý Nga, Đức, Anh, Pháp, Mỹ như: V. Cảnh quan học hiện đại bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 60 của thế kỷ XX với những nghiên cứu cấu trúc, xác định định tính các tính chất của CQ.
Trong quá trình phát triển, cùng với việc sử dụng các biện pháp liên ngành, các hướng tiếp cận khác nhau và với các yêu cầu mới của phát triển KTXH, CQ học đã từng bước thay đổi từ nghiên cứu cấu trúc sang nghiên cứu chức năng, động lực CQ. Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã giúp cho địa lý CQ có những công cụ nghiên cứu hữu hiệu như công nghệ viễn thám, công nghệ GIS,. Hiện nay việc NCCQ đã được mở rộng về cả phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, vì vậy các kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng rộng rãi trong phát triển KTXH, tạo cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý TNTN và phát triển bền vững KTXH.Hướng nghiên cứu phân vùng cảnh quan, phân loại cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ (nghiên cứu theo hướng cá thể hoặc kiểu loại cảnh quan) Cảnh quan học được hình thành và phát triển từ các nhà CQ học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây. Học thuyết về CQ được sáng lập ra bởi L.
Berg năm 1913 khi đưa ra quan niệm CQ dựa trên học thuyết của V. Docusaev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên: CQ thiên nhiên là một thể thống nhất gồm có địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật và coi CQ chính là đối tượng nghiên cứu của địa lý. Đến năm 1931, cơ sở để hoàn thiện lí luận CQ đã được L. Berg đưa ra trong tác phẩm “Các đới CQ địa lí Liên Xô” (tập 1) trong đó đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở học thuyết CQ, chỉnh lý, bổ sung lại định nghĩa đầu tiên của mình và đưa ra những ví dụ về CQ, nhận xét về sự tác động tương hỗ giữa các CQ và giữa các thành phần của nó, đồng thời chỉ ra nguồn gốc của CQ học.
Trong những năm tiếp theo với các nghiên cứu của mình các tác giả G.Annhenxkaia luan an 8 (1963), F. Cùng với sự phát triển của xã hội và đòi hỏi của thực tiễn sản xuất, hướng nghiên cứu CQ ứng dụng đã ra đời và A. Ixatsenko là người đặt nền móng cho sự phát triển hướng nghiên cứu này thông quan nhiều nhiều công trình và tác phẩm được công bố từ năm 1961 đến 1976 như: “Bản đồ CQ Liên Xô, tỉ lệ 1:4.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu CQ”, “Cơ sở CQ học và phân vùng địa lí tự nhiên”, “Về những nội dung của bản đồ CQ địa lí”. Cùng với các công trình của A.
Ixatsenko, thì các công trình phân loại CQ của N. đã đề cập đến vấn đề phương pháp nghiên cứu CQ, cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên, đưa ra nhiều hệ thống phân vị khác nhau [26]. Năm 1985, trong công trình “CQ học ứng dụng” A. Ixatsenko đã phân tích những mối quan hệ tác động của con người lên CQ, làm cho các CQ bị biến đổi sâu sắc đòi hỏi phải tìm cách tối ưu hóa trong khai thác tự nhiên (SDHL tài nguyên) [27], đây là tiền đề cho các nghiên cứu các tác động của con người tới sự hình thành CQ.
Sự phân hóa lãnh thổ được xác lập dựa trên các hệ thống phân loại và phân vùng CQ. Trong giai đoạn tiếp theo, hướng tiếp cận này được A.Ixatsenko và nhiều tác giả củng cố về mặt lý luận và thực tiễn trong tổ chức định hướng không gian sản xuất cho các ngành nông, lâm nghiệp, du lịch và thể hiện rõ quan điểm ứng dụng vào CQ học. Kết quả NCCQ học ứng dụng của các tác giả V.Bonkov… trong tổ chức, quy hoạch lãnh thổ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới đã được công bố và đóng góp nhiều hơn các nội dung về cơ sở lý luận và thực tiễn của hướng nghiên cứu này. Như vậy, phân vùng CQ và phân loại CQ là hai cách tiếp cận để thể hiện sự phân hóa không gian của lãnh thổ.
Phân vùng CQ với quan niệm CQ là đơn vị cá thể - các đơn vị phân chia không được phép lặp lại trong không gian và mỗi đơn vị sẽ hoàn toàn độc lập với luan an 9 nhau. Đây là cách phân vùng nhấn mạnh nhấn mạnh đến tương quan phân bố của các đơn vị CQ và mối quan hệ của chúng. Phân loại CQ với quan niệm CQ là đơn vị phân loại- các đơn vị phân chia được phép lặp lại trong không gian và các đơn vị này sẽ thuộc cùng một kiểu loại. Đây là cách phân vùng nhấn mạnh đến sự tương đồng về chất Cả hai cách tiếp cận trên đều có nhiệm vụ phân chia ra các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn nằm trong một địa tổng thể bất kì, và mỗi đơn vị lãnh thổ được phân chia phải có những nét đặc trưng riêng phân biệt với các đơn vị lân cận và được nhận biết theo những dấu hiệu nhất định làm cơ sở cho việc đánh giá CQ theo các mục đích sử dụng khác nhau.
Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan Sinh thái CQ (STCQ) là một khoa học nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái CQ: thành phần, cấu trúc, chức năng của CQ, các mô hình CQ, mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong mô hình CQ, sự thay đổi của mô hình CQ theo thời gian và việc áp dụng CQ trong thực tế. Khái niệm sinh thái CQ (Landscape ecology) được Carl Troll đưa ra năm 1939. STCQ nhấn mạnh vai trò của các tác động của con người trong cấu trúc và chức năng CQ và là một trong những những yếu tố gây ra sự thay đổi trong CQ [92], [96]. Các nghiên cứu sinh thái CQ tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc và chức năng CQ (Forman và Godron năm 1986) [100], quan hệ định lượng giữa các yếu tố thành tạo CQ, nghiên cứu xây dựng các cách phân loại chức năng CQ (De Groot, 1992)[89], tìm ra các mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng CQ, phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị CQ nhằm định hướng quy hoạch lãnh thổ ở các quy mô khác nhau, đánh giá tác động môi trường và quản lý tài nguyên.
Trong nghiên cứu cấu trúc CQ đã có sự thay đổi theo hướng từ tiếp cận định tính sang tiếp cận định lượng về mặt cấu trúc hình thái như: S. Cách tiếp cận đánh giá vai trò của các nhân tố trong cấu trúc CQ đi sâu vào mối quan hệ tác động, trao đổi vật chất giữa các thành phần. Việc ứng dụng các phương pháp định lượng trong đánh giá CQ đã xây dựng được các dữ liệu chính xác về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật góp phần ứng dụng vào thực tế [81], [98], [99]. Ngoài việc thay đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng về mặt cấu trúc CQ thì một nội dung quan trọng của việc nghiên cứu CQ là phân loại chức năng CQ.
Việc phân loại chức năng CQ đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trước hết phải kể đến E.de Groot (1992) đã đưa ra các cách phân loại chức năng CQ; trong công trình “Sinh thái CQ” của R. Phân tích chức năng CQ, coi phân tích chức năng CQ, đánh giá chức năng và tiềm năng CQ là cơ sở, công cụ trong việc đánh giá vấn đề SDHL đất đai, quyết định sử dụng loại hình đất. Ngoài ra, nhiều tác giả cho rằng phân tích, đánh giá không gian chức năng CQ là cơ sở nắm bắt thông tin để tham gia điều chỉnh sự phát triển CQ tiếp cận nghiên cứu chức năng cho các mục đích thực tiễn khác nhau [87], [88], [91], [93].