Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về nông thôn Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau và chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn. Vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, theo quan điểm này khu vực nông thôn có quy mô dân số và mật độ thấp hơn so với khu vực đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra, “nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, phần lớn người dân sinh sống tại khu vực nông thôn lấy sản xuất nông nghiệp làm kế sinh nhai chính của mình” (Đặng Kim Sơn, 2010).
Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây. Tại Việt Nam khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo nghiên cứu về “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cũng cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng cũng khác nhau: “làng” cũng gọi là “thôn” hoặc “làng xóm”, cũng có khi làng cũng chính là “xóm” (Hoàng Chí Bảo, 2010).
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì nông thôn là: “phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự 6 nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp”. Về mặt địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị. Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông - lâm - ngư ngiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
Về tổ chức xã hội - cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ tộc với mật độ dân cư thấp. Ngoài ra, có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở nông thôn. Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử. Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng dân cư nông thôn thường thấp kém, thua xa so với đô thị.
Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “ bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở nông thôn”. Nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cư dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp); có mật độ dân cư thấp và quần cư theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ về khoa học kỹ thuật cũng như tư duy sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường là thấp kém hơn so với đô thị (Phạm Văm Lâm, 2016). Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Đặc điểm của các vùng nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, dân cư nông thôn luôn có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng 7 dân cư thành thị.
Khái niệm về nông thôn mới Đến nay chưa có khái niệm chính thức về nông thôn mới, nông thôn phát triển như thế nào, ở mức độ nào thì được gọi là nông thôn mới, vấn đề này mang tính lịch sử, tùy theo từng quốc gia, khu vực và tùy theo từng thời điểm phát triển, người ta có thể đưa ra tiêu chí về nông thôn mới khác nhau. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn. Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá;thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, hộ nghèoở mức thấp nhất không có hộ đói.
Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao. Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái. Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó,bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phương. Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Như vậy, nông thôn mới được hiểu là nông thôn mà ở đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ 8 thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội (Phạm Văn Lâm, 2016). ❖ Xã nông thôn mới Trong giai đoạn 2010-2016, một xã được công nhận là xã NTM nếu được công nhận là đã hoàn thành việc thực hiện 19 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 ban hành theo Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, điều chỉnh theo Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 10 tháng 2 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ. Trong giai đoạn 2016-2020, một xã được công nhận là xã NTM nếu được công nhận là đã hoàn thành việc thực hiện 19 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 ban hành theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ. Trong giai đoạn 2021-2025, một xã được công nhận là xã NTM/xã NTM nâng cao nếu được công nhận là đã hoàn thành việc thực hiện 19 tiêu chí trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới/ xã NTM nâng cao ban hành theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08 tháng 3 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ.
Một xã được công nhận là xã NTM kiểu mẫu, theo Quyết định 319/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 nếu thỏa mãn 04 điều kiện sau: - Đã đạt chuẩn NTM nâng cao trong giai đoạn 2021-2025 hoặc đạt chuẩn NTM trong giai đoạn 2018-2020 nhưng phải đáp ứng đầy đủ mức đạt chuẩn theo Bộ Tiêu chí quốc gia về xã NTM nâng cao giai đoạn 2021-2025; - Thu nhập bình quân đầu người của xã tại thời điểm xét công nhận xã NTM kiểu mẫu phải cao hơn từ 10% trở lên so với xã NTM nâng cao tại cùng thời điểm; - Có ít nhất 01 mô hình nông thôn thông minh, do UBND cấp tỉnh quy định cụ thể; - Đạt tiêu chí xã NTM kiểu mẫu theo ít nhất một trong cac lĩnh vực nổi trội nhất (về sản xuất, về giáo dục, về văn hóa,…) mang giá trị đặc trưng của địa phương, so UBND cấp tỉnh ban hành. 9 ❖ Huyện nông thôn mới Một huyện, trong giai đoạn 2016-2020 được công nhận là huyện NTM nếu 100% số xã trong huyện đạt chuẩn xã NTM và thỏa mãn 09 tiêu chí đạt chuẩn theo quy định tại Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.