CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và vai trò quan hệ về đất đai Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng, là nguồn nội lực to lớn của đất nước. Đất đai gắn liền với hoạt động sản xuất, đời sống của con người, gắn liền với chủ quyền, lãnh thổ của một quốc gia, nhà nước nhất định. Đất đai là tặng vật của thiên nhiên cho không loài người, không phải do con người làm ra. Đất đai là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của một quốc gia.
Đất đai được cố định bỡi mặt số lượng.Mỗi quốc gia, mỗi vùng địa lý có những đặc trưng khác nhau về khí hậu, địa hình… thì tính chất đất cũng khác nhau)[11]. Đất đai là sản phẩm tự nhiên nhưng nó chứa đựng những yếu tố lao động sống và lao động vật hóa của con người. Hiến pháp của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992, tại điều 17 đã quy định: “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất… đều thuộc sỡ hữu của toàn dân”. Luật Đất đai năm 2003 đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (khoản 1, Điều 5)[17].
Đất đai bao gồm cả môi trường sống và các nguồn lợi tự nhiên: khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất. Sinh vật sống trên đất thậm chí có sinh vật sống trong lòng đất. Có đât, có cây cối mới có con người. Trong đời sống xã hội, đất đai là công cụ lao động chung, là điều kiện cần thiết để thực hiện tất cả các quá trình sản xuất.
Khi đưa vào sản xuất thì đất trở thành tư liệu sản xuất nhưng vai trò của đất đai trong các lĩnh vực không giống nhau. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân có nghĩa là đất đai không thuộc quyền sở hữu của một tổ chức hay một cá nhân công dân nào. Các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân chỉ là chủ thể của quyền sử dụng đất. Đất đai là thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai ở đây là quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối. Tính chất tuyệt đối và duy nhất thể hiện ở chỗ quyền sở hữu toàn dân bao trùm cả đất đai, bất kỳ là đất đó hiện đang do ai sử dụng và không cho phép bất cứ hình thức sở hữu nào khác tồn tại. Việc sủ dụng đất của các tổ chức, cộng đồng dân cư hộ gia đình và cá nhân phải đảm bảo đúng quy hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trường. Đó chính là PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 nguyên tắc pháp lý xuyên suốt trong quản lý, sử dụng đất, phản ánh đặc trưng của quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là kết quả của đầu tư lao động, vốn, công sức cải tạo của người lao động cụ thể. Vì vậy, người sử dụng đất không thể là một khái niệm chung chung mà phải hết sức cụ thể và được hưởng các lợi ích thiết thực. Các yếu tố đó đòi hỏi việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phải đảm bảo cho nhà nước can thiệp vào quan hệ đất đai với tư cách là người đại diện chủ sở hữu và quản lý tối cao đối với đất đai và dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước thì đất đai với tính chất là tư liệu sản xuất đặc biệt phải thuộc về người chủ sử dụng cụ thể. Mối quan hệ này phải là một sự thống nhất hài hòa giữa các quyền năng, vai trò tối cao của nhà nước với các quyền cụ thể của người sử dụng đất.
Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá không thể thay thế được. Đó là quá trình chinh phục, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó Nhà nước và mọi tổ chức, công dân phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn gữ nguồn tài nguyên quốc gia. Trên toàn quốc các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai chiếm từ 50-60% tổng số đơn thư tiếp nhận[15].
Căn cứ vào chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất bao gồm các đối tượng: Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, các đơn vị lực lượng vũ trang, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội. Nhà nước bảo hộ cho người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao và được quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất… Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, cải tạo, bồi dưỡng và sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại Khiếu nại nghĩa là việc phàn nàn, phản ứng, bất bình của một người nào đó đối với một vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình. Theo giải thích của từ điển tiếng Việt thì khiếu nại là “đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý” [28]. Theo sách “3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông”: “khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác [6].
Theo Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên: "Khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y [30]. Khiếu nại được thể hiện trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998: “ Khiếu nại là việc công dân, cơ quan tổ chức, hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 định, đề nghị cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 2 Điều 2)[18]. Khái niệm này chỉ giới hạn những khiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước mà đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính. Luật Khiếu nại năm 2011 quy định tại Điều 2 đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức[19].
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005, quyết định hành chính phải là quyết định bằng văn bản, thì Luật Khiếu nại 2011 mở rộng “Quyết định hành chính” là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người giải quyết khiếu nại. Giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của Nhà nước và xã hội[27]. Tố cáo và giải quyết tố cáo Tố cáo theo từ điển tiếng Việt thì tố cáo là “báo cáo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó”[20].
Về mặt xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này về hành vi của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức và người khác biết để có biện pháp giải quyết. Trong pháp luật nước ta, lần đầu tiên Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã quy định khái niệm tố cáo: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (khoản 2 Điều 2)[18]. Hành vi vi phạm pháp luật rất phức tạp, có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, với tính chất, mức độ vi phạm khác nhau, xâm phạm đến những quan hệ xã hội khác nhau được pháp luật bảo vệ. Về nguyên tắc thì các hành vi vi phạm pháp luật PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Nhà nước phải có cơ chế để khuyến khích, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát hiện, tố cáo, phản ánh với các cơ quan nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành Luật khiếu nại, tố cáo vào năm 1998 và đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 và ban hành luật tố cáo riêng vào năm 2011, đồng thời có nhiều quy định để điều chỉnh về tố cáo và giải quyết tố cáo trong các lĩnh vực, tạo thành hệ thống pháp luật đồng bộ điều chỉnh về vấn đề này. Tuy nhiên với tư cách là đạo luật gốc điều chỉnh những vấn đề cơ bản, chung nhất về tố cáo và giải quyết tố cáo thì nội dung của Luật khiếu nại, tố cáo chưa bao quát, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc giải quyết những tố cáo đang phát sinh trên thực tiễn.