Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam" được nghiên cứu sinh Lê Thái Phương thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự (mã số 62.38.01.03 / 9380103), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu và TS Lê Đình Nghị. Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường vào ngày 01 tháng 03 năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng việc hoàn thiện chế định bồi thường nhà nước là yêu cầu xuyên suốt của tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Sau hơn 8 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (với trung bình hơn 50 vụ việc yêu cầu và giải quyết bồi thường mỗi năm), đạo luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế, không bảo đảm tính tương thích với Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các đạo luật tố tụng năm 2015. Ngày 20/6/2017, Quốc hội đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018). Tuy nhiên, sau gần 2 năm triển khai, đạo luật mới này tiếp tục phát sinh các vướng mắc, chưa khắc phục triệt để bất cập cũ và nảy sinh những khoảng trống pháp lý mới trong thực tiễn áp dụng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) trong pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về TNBTCNN.
  2. Nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về TNBTCNN nhằm rút ra các giá trị tham khảo.
  3. Đánh giá, phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về TNBTCNN (căn cứ, phạm vi, cơ chế giải quyết, thiệt hại được bồi thường, quản lý nhà nước) và thực tiễn thi hành để chỉ ra các khiếm khuyết hiện hành.
  4. Đề xuất các quan điểm định hướng và kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện cụ thể quy định pháp luật về TNBTCNN.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu như thế nào về TNBTCNN?
  • Pháp luật các nước trên thế giới quy định thế nào về TNBTCNN và kinh nghiệm cho Việt Nam?
  • TNBTCNN có những đặc điểm gì khác biệt so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung?
  • Pháp luật về TNBTCNN ở Việt Nam từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay đã hình thành và phát triển như thế nào?
  • TNBTCNN có đặc điểm pháp lý ra sao, pháp luật về TNBTCNN có những hạn chế, bất cập gì qua từng giai đoạn?
  • Quan điểm và những kiến nghị cụ thể nào cần đặt ra để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN?

Ba giả thuyết khoa học được luận án xác lập gồm:

  • TNBTCNN luôn gắn liền với cơ chế đánh giá tính hợp pháp, đúng đắn của hành vi thi hành công vụ.
  • TNBTCNN chưa hoàn thiện dưới nhiều góc độ, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
  • Việc hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN phải bảo đảm có tiêu chí đánh giá và quan điểm tiếp cận rõ ràng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu chế định TNBTCNN tại Việt Nam dưới góc độ lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn thi hành từ năm 1945 đến nay, trong đó trọng tâm là giai đoạn từ khi ban hành Luật TNBTCNN năm 2009 và Luật TNBTCNN năm 2017. Về phạm vi không gian và luật học so sánh, luận án khảo sát kinh nghiệm pháp luật thực định của một số quốc gia như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Canada, Cộng hòa Philippines và Indonesia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thông qua các nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước:

Về các luận án, luận văn trong nước, tác giả điểm lại:

  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đỗ Kiên (2014) về "Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam", tập trung vào hoạt động quản lý hành chính.
  • Luận văn thạc sĩ của Hoàng Xuân Hoan (2013) về "Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước", nghiên cứu lịch sử và so sánh pháp luật.
  • Luận văn thạc sĩ của Trần Việt Hưng (2014) về "Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay".

Về các đề tài khoa học và sách chuyên khảo:

  • Đề tài cấp trường của TS Nguyễn Minh Tuấn (2008, Trường Đại học Luật Hà Nội) về "Trách nhiệm dân sự của cơ quan, tổ chức về thiệt hại do hành vi của cán bộ, công chức gây ra - vấn đề lý luận và thực tiễn".
  • Đề tài cấp bộ của ThS Nguyễn Thanh Tịnh (2012, Cục Bồi thường nhà nước - Bộ Tư pháp) về "Các biện pháp bảo đảm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước".
  • Sách chuyên khảo "Những vấn đề cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009" do TS Đinh Trung Tụng chủ biên (2009) và cuốn "Tìm hiểu pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước" do ThS Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên (2012).

Về các bài viết tạp chí và kỷ yếu hội thảo:

  • Bài viết của Phạm Kim Anh (2009) về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2005; Nguyễn Thanh Tịnh (2006) về tính cấp thiết ban hành luật; Nguyễn Thị Thu Vân (2008) về chế định bồi thường nhà nước tại Cộng hòa Pháp; Trịnh Đức Thảo (2008) về hai lý thuyết và hai loại trách nhiệm bồi thường nhà nước; Đào Đức Cẩn (2014) về mô hình cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường; Nguyễn Thị Tố Hằng (2014) về phạm vi trách nhiệm trong quản lý hành chính; các tham luận của GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2007) về bồi thường thiệt hại của lập pháp, TS Phạm Hồng Thái (2008), PGS.TS Nguyễn Như Phát (2007), TS Trần Thái Dương (2009).

Về tài liệu nghiên cứu nước ngoài, luận án khảo cứu các công trình:

  • Arnel Cezar (2007) về pháp luật và chính sách bồi thường nhà nước tại Philippines;
  • Christian A. Brendel (2007) về trách nhiệm bồi thường của nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức đối với hành vi sai phạm;
  • Pierre Delvolvé (2007) về lịch sử và đặc thù pháp luật bồi thường nhà nước của Pháp;
  • Taro Morinaga (2007) về trường phái lý thuyết và thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường nhà nước tại Nhật Bản.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận TNBTCNN ở từng khía cạnh riêng lẻ (như trong quản lý hành chính hoặc thi hành án), chủ yếu tập trung vào khuôn khổ Luật TNBTCNN năm 2009 hoặc phân tích góc độ dân sự thuần túy mà chưa gắn kết chặt chẽ với tính chất công vụ. Kể từ khi Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện từ cơ sở lý luận, so sánh quốc tế đến đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thi hành để đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện đồng bộ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích, luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm pháp lý:

  • Lý thuyết về bản chất pháp lý của TNBTCNN: Phân tích sự giao thoa giữa luật công và luật tư, đặt TNBTCNN trong mối quan hệ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm hành chính mang tính quyền lực công.
  • Lý thuyết trách nhiệm trực tiếp (direct liability) và Lý thuyết trách nhiệm thay thế (vicarious/subrogated liability): Đánh giá hành vi của công chức là hành vi trực tiếp của Nhà nước hay Nhà nước chỉ đứng ra bồi thường thay cho người thi hành công vụ.
  • Nguyên tắc Nhà nước pháp quyền và Quyền con người, quyền công dân: Dựa trên tinh thần Hiến pháp năm 2013 và quyền tiếp cận công lý (access to justice) gồm quyền được xét xử công bằng và quyền được khắc phục, đền bù thiệt hại (remedy).

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Luận án lấy phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng định hướng xuyên suốt.
  • Phương pháp phân tích và bình luận luật học: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật thực định hiện hành, các tiêu chuẩn pháp lý về căn cứ phát sinh, phạm vi bồi thường và thủ tục giải quyết.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng thi hành Luật TNBTCNN tại Việt Nam và các luồng quan điểm khoa học pháp lý.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và so sánh mô hình pháp luật bồi thường nhà nước của Việt Nam với các hệ thống pháp luật Civil Law và Common Law trên thế giới.

Về nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:

  • Nguồn văn bản quy phạm pháp luật: Các bản Hiến pháp Việt Nam (1959, 1980, 1992, 2013); Bộ luật Dân sự (1995, 2005, 2015); Luật TNBTCNN năm 2009 và năm 2017; Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản; các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
  • Nguồn án lệ và văn bản pháp luật quốc tế: Điển hình như Án lệ Blanco (ngày 08/02/1873) của Pháp; các quy định pháp luật bồi thường của Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Philippines, Indonesia, Canada.
  • Nguồn số liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật, số liệu thống kê giải quyết bồi thường nhà nước của Bộ Tư pháp (Cục Bồi thường nhà nước), Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan thi hành án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về khái niệm, bản chất, đặc điểm và kinh nghiệm lập pháp quốc tế về TNBTCNN.

Sau quá trình tiếp thu ý kiến của Hội đồng chấm luận án, tác giả đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh: "TNBTCNN là một dạng cụ thể của trách nhiệm của Nhà nước mà trong đó, Nhà nước phải thực hiện việc bù đắp những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp người thi hành công vụ trong khi thi hành công vụ đã gây thiệt hại trái pháp luật về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác."

Về bản chất pháp lý, luận án phân tích ba trường phái học thuật:

  • Quan điểm truyền thống coi TNBTCNN thuần túy là trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Quan điểm coi TNBTCNN là quan hệ pháp luật hành chính mang tính mệnh lệnh - phục tùng.
  • Quan điểm coi TNBTCNN có tính chất giao thoa giữa luật công và luật tư ("mang trên mình vóc dáng của pháp luật công nhưng lại mang trong mình tâm hồn của pháp luật tư").

Luận án khẳng định TNBTCNN có 5 đặc điểm pháp lý đặc thù:

  1. Phát sinh từ hoạt động thi hành công vụ nhân danh quyền lực nhà nước;
  2. Do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ (bao gồm cán bộ, công chức, viên chức trong một số hoạt động công vụ) gây ra;
  3. Khách thể bị xâm phạm là quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ;
  4. Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm chi trả tiền bồi thường từ ngân sách nhà nước;
  5. Cơ chế giải quyết bồi thường kết hợp giữa thủ tục hành chính, thủ tục tố tụng và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.

Về kinh nghiệm quốc tế, luận án tổng hợp các mô hình tiếp cận pháp luật:

Quốc gia Hệ thống pháp luật Khái niệm & Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Cộng hòa Pháp Civil Law Dựa trên Án lệ Blanco (1873); tách rời khỏi Bộ luật Dân sự; áp dụng các nguyên tắc riêng của luật công và do Tòa án hành chính tài phán.
CHLB Đức Civil Law Phạm vi rộng: gồm trách nhiệm ngoài hợp đồng, vi phạm hợp đồng công và bồi thường do hành vi "chiếm đoạt" (quốc hữu hóa, trưng thu, trưng dụng).
Nhật Bản Civil Law Tiếp cận theo lý thuyết trách nhiệm thay thế (subrogated liability); phát triển mạnh xu hướng phúc lợi xã hội thông qua án lệ.
Hoa Kỳ / Khối Common Law Common Law Khởi nguồn từ học thuyết miễn trừ trách nhiệm quốc gia (crown immunity); Nhà nước chỉ bồi thường khi có quy định luật hóa cụ thể của Nghị viện/Quốc hội.
Indonesia / Canada Hỗn hợp Mở rộng bồi thường đối với thiệt hại do hoạt động lập quy/chính sách hoặc vi phạm điều ước quốc tế về quyền con người.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam

Chương 2 phân tích tiến trình lịch sử lập pháp và đi sâu vào 11 nội dung cơ bản của Luật TNBTCNN năm 2017 trong mối liên hệ với thực tiễn:

  1. Sơ lược lịch sử: Từ các quy định thời phong kiến đến Sắc lệnh thời kỳ đầu lập quốc, qua các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992, BLDS 1995 (Điều 623, 624), BLDS 2005 (Điều 619, 620), Luật TNBTCNN 2009 và BLDS 2015 (Điều 598).
  2. Người được bồi thường và người có quyền yêu cầu: Mở rộng diện chủ thể nhưng còn vướng mắc về tư cách đại diện và người thừa kế.
  3. Nguyên tắc bồi thường: Kịp thời, công khai, đúng pháp luật, giải quyết trên cơ sở thương lượng.
  4. Quyền yêu cầu bồi thường và Thời hiệu: Quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường.
  5. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường: Phân định giữa cơ quan quản lý người thi hành công vụ, cơ quan sử dụng và cơ quan chi trả lương. Tác giả chỉ ra bất cập khi một vụ việc liên quan đến nhiều cơ quan trong chuỗi tố tụng nhưng luật chưa xác định rành mạch cơ quan chịu trách nhiệm chính.
  6. Căn cứ xác định trách nhiệm: Phải có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường xác định hành vi trái pháp luật.
  7. Phạm vi trách nhiệm bồi thường: Phân chia theo các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự và thi hành án hình sự.
  8. Thiệt hại được bồi thường: Phân tích sự thiếu đồng bộ giữa Luật TNBTCNN năm 2017 và BLDS năm 2015. Điển hình: mức bồi thường tổn thất tinh thần trong trường hợp người bị oan chết theo Luật TNBTCNN là 360 tháng lương cơ sở, trong khi Điều 591 BLDS năm 2015 quy định mức tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở.
  9. Thủ tục giải quyết bồi thường: Tồn tại sự phân tách bất hợp lý tại Điều 45 Luật TNBTCNN 2017 khi tách rời giữa tố tụng hình sự/hành chính giải quyết hành vi oan sai với tố tụng dân sự giải quyết bồi thường, làm kéo dài thời gian và gây khó khăn cho người bị thiệt hại.
  10. Kinh phí và thủ tục chi trả: Vấn đề lập dự toán, cấp phát kinh phí bồi thường từ ngân sách nhà nước và thủ tục hoàn trả của người thi hành công vụ có lỗi.
  11. Quản lý nhà nước về công tác bồi thường: Thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:

  • Về quan điểm định hướng: Hoàn thiện pháp luật TNBTCNN phải bám sát tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013; phù hợp với Chiến lược cải cách tư pháp (Nghị quyết số 49-NQ/TW) và Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 (kết luận tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW); bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa luật nội dung và luật hình thức.
  • Về kiến nghị hoàn thiện cụ thể:
    • Lấy Bộ luật Dân sự làm đạo luật nền tảng, làm gốc để chuẩn hóa các khái niệm, phương thức xác định và mức bồi thường thiệt hại nhằm triệt tiêu sự mâu thuẫn giữa Luật TNBTCNN và BLDS.
    • Sửa đổi quy định xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo nguyên tắc hành vi cuối cùng có tính chất quyết định gây ra hậu quả (trong tố tụng hình sự là cơ quan ra bản án hoặc quyết định tố tụng cuối cùng làm phát sinh oan sai).
    • Hoàn thiện cơ chế tố tụng tại Tòa án: Kết nối thủ tục giải quyết vụ án chính (hình sự, hành chính) với việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại để tránh việc người dân phải khởi kiện dân sự độc lập qua nhiều giai đoạn; quy định rõ nghĩa vụ giải thích quyền yêu cầu bồi thường của Thẩm phán.
    • Mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ công của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập khi thực hiện nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước (như hoạt động giám định tư pháp sai sót).
    • Hoàn thiện chế tài cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định giải quyết bồi thường nhà nước đã có hiệu lực pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận: Xây dựng hoàn chỉnh khái niệm TNBTCNN; phân tích và luận giải 5 đặc điểm pháp lý đặc thù của TNBTCNN trong mối quan hệ so sánh với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng truyền thống; làm rõ sự kết hợp giữa yếu tố công quyền và bản chất dân sự.
  2. Về luật học so sánh: Nghiên cứu, tổng hợp có hệ thống kinh nghiệm pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của các quốc gia đại diện cho hai hệ thống pháp luật lớn (Civil Law và Common Law), chỉ ra các xu hướng hiện đại như xu hướng phúc lợi xã hội và xu hướng mở rộng trách nhiệm công quyền để Việt Nam tham khảo.
  3. Về đánh giá thực tiễn: Phân tích toàn diện lịch sử phát triển lập pháp từ năm 1945 đến nay; chỉ rõ những xung đột, bất cập mang tính cấu trúc giữa Luật TNBTCNN năm 2017 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và các đạo luật tố tụng.
  4. Về giải pháp lập pháp: Đưa ra hệ thống quan điểm định hướng và các kiến nghị sửa đổi cụ thể, trong đó điểm nhấn là đề xuất định vị lại vị trí nền tảng của Bộ luật Dân sự trong việc điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại và cải cách cơ chế tố tụng giải quyết bồi thường tại Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, do phạm vi đề tài nghiên cứu bao quát toàn bộ các chế định của Luật TNBTCNN, một số nội dung thực tiễn thi hành chuyên sâu trong từng lĩnh vực tố tụng cụ thể (như thi hành án dân sự, tố tụng hành chính) chưa được đào sâu mức tối đa; luận án chưa thể chế hóa hệ thống kiến nghị thành một bản dự thảo Luật hoàn chỉnh do giới hạn dung lượng quy định của luận án tiến sĩ.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các vấn đề mở ra gồm:

  • Nghiên cứu cơ chế áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành bản án, quyết định bồi thường nhà nước có hiệu lực pháp luật.
  • Nghiên cứu mô hình cơ quan bồi thường chuyên trách của Nhà nước.
  • Nghiên cứu mở rộng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với thiệt hại do tài sản thuộc sở hữu nhà nước gây ra theo xu hướng phúc lợi xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Cục Bồi thường nhà nước): Cung cấp luận cứ khoa học cho việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS): Làm tài liệu tham khảo trong việc xác định thẩm quyền, cơ quan có trách nhiệm bồi thường và áp dụng thủ tục thương lượng, giải quyết bồi thường trong các vụ việc oan sai.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý: Cung cấp tài liệu chuyên khảo sâu sắc cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hành chính và Luật Tố tụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như thế nào?

Luận án định nghĩa: TNBTCNN là một dạng cụ thể của trách nhiệm của Nhà nước mà trong đó, Nhà nước phải thực hiện việc bù đắp những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp người thi hành công vụ trong khi thi hành công vụ đã gây thiệt hại trái pháp luật về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác.

2. Điểm mâu thuẫn lớn giữa Luật TNBTCNN năm 2017 và Bộ luật Dân sự năm 2015 về mức bồi thường thiệt hại tinh thần là gì?

Theo phân tích của luận án, trong trường hợp người bị oan chết, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định mức bồi thường tổn thất tinh thần là 360 tháng lương cơ sở, trong khi Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mức bồi thường tối đa cho trường hợp tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở.

3. Theo tác giả, trong chuỗi hành vi tố tụng hình sự dẫn đến oan sai do cơ quan chuyên môn giám định sai, cơ quan nào chịu trách nhiệm bồi thường?

Tác giả xác định cơ quan bồi thường phải căn cứ vào hành vi cuối cùng trong chuỗi hành vi thi hành công vụ có mối quan hệ nhân quả trực tiếp làm phát sinh thiệt hại (hành vi tuyên án). Do đó, cơ quan đã ra bản án tuyên phạm tội mà sau này bản án bị hủy là cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

4. Luận án phân loại các quan điểm chính về bản chất pháp lý của TNBTCNN trên thế giới như thế nào?

Luận án phân chia thành hai luồng quan điểm lớn: một là coi TNBTCNN thuần túy là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi thi hành công vụ gây ra (tiếp cận truyền thống ở Việt Nam và một số nước Civil Law); hai là coi TNBTCNN bao gồm cả trách nhiệm ngoài hợp đồng và vi phạm hợp đồng (phổ biến ở các nước Common Law do nguồn gốc học thuyết miễn trừ trách nhiệm quốc gia). Ngoài ra, một số nước như Đức và Indonesia còn mở rộng sang trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt, trưng thu hoặc hoạt động lập quy.

5. Vì sao tác giả kiến nghị phải lấy Bộ luật Dân sự làm nền tảng khi hoàn thiện Luật TNBTCNN?

Vì Bộ luật Dân sự là luật chung, giữ vai trò nền tảng điều chỉnh toàn bộ các quan hệ bồi thường thiệt hại. Việc quy định các quy tắc xác định thiệt hại, mức bồi thường tách rời và xung đột với BLDS trong Luật TNBTCNN đã phá vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể được bồi thường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thái Phương là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý đặc thù của quan hệ bồi thường nhà nước và tổng hợp kinh nghiệm lập pháp quốc tế phong phú. Trên cơ sở phân tích sâu sắc các bất cập của Luật TNBTCNN năm 2017 trong mối tương quan với Bộ luật Dân sự năm 2015 và các luật tố tụng, luận án đã xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp logic, khoa học, có giá trị đóng góp thiết thực cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện pháp luật Việt Nam.