Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền, nguyên tắc "người gây thiệt hại có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại đã gây ra" là một trong những nguyên tắc nền tảng được thừa nhận phổ biến trong khoa học pháp lý. Khi Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý hành chính, tư pháp và thi hành án thông qua đội ngũ cán bộ, công chức, các sai phạm phát sinh từ việc thực thi công vụ đều có thể xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, từ đó làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN). Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do cơ quan, công chức nhà nước gây ra đã được hiến định trong nhiều bản hiến pháp trên thế giới như Điều 53 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993, Điều 17 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, Điều 41 Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1982. Tại Việt Nam, quyền này được ghi nhận trang trọng tại khoản 2 Điều 30 và khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013.

Về phương diện lập pháp, sau giai đoạn áp dụng các quy định phân tán (1959–2008), Luật TNBTCNN năm 2009 được Quốc hội khóa XII thông qua đã đặt nền móng chế định này. Nhằm khắc phục các bất cập thực tiễn và đồng bộ với Hiến pháp năm 2013, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật TNBTCNN năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2018). Tuy nhiên, sau 5 năm thi hành, quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước tiếp tục bộc lộ một số vướng mắc về thẩm quyền, xác định thiệt hại và cách tính thời hiệu. Bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện chế định pháp lý này. Do đó, đề tài "Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định pháp luật Việt Nam" được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành Luật TNBTCNN. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về TNBTCNN (khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm, điều kiện phát sinh, chủ thể, nguyên tắc, các loại thiệt hại và thời hiệu yêu cầu bồi thường).
  2. Phân tích thực trạng quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 trong mối liên hệ đối chiếu với Luật TNBTCNN năm 2009, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: (i) Các vấn đề lý luận về TNBTCNN; (ii) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ TNBTCNN; (iii) Thực tiễn áp dụng và giải quyết các vụ việc yêu cầu bồi thường nhà nước. Phạm vi nghiên cứu về không gian là lãnh thổ Việt Nam; về thời gian tập trung vào giai đoạn từ khi Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực (từ ngày 01/07/2018 đến năm 2023), có đối chiếu với giai đoạn áp dụng Luật TNBTCNN năm 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Tác giả tiếp cận lý thuyết về nguồn gốc quyền lực công và nghĩa vụ ràng buộc của Nhà nước qua tác phẩm Khế ước xã hội (Du Contrat Social) của Jean-Jacques Rousseau, khẳng định người nắm quyền công phải chịu sự ràng buộc trách nhiệm bồi thường đối với cộng đồng khi xâm phạm quyền công dân. Về mặt lý luận dân sự, công trình kế thừa học thuyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lý thuyết cấu thành thiệt hại từ Luật La Mã bao gồm Damnum emergens (thiệt hại thực tế, mất mát tài sản hiện hữu) và Lucrum cessans (lợi tức bị bỏ lỡ, thu nhập thực tế bị giảm sút). Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các định nghĩa pháp lý chuẩn mực từ Từ điển Thuật ngữ pháp lý của Dalloz, Gérard Cornu, Black's Law Dictionary và Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp.

Khung pháp lý tham chiếu trực tiếp bao gồm: Hiến pháp năm 2013; Luật TNBTCNN năm 2017; Luật TNBTCNN năm 2009; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Nghị định số 68/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ và hệ thống các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành (TTLT số 17/2015/TTLT-BTP-BQP, TTLT số 18/2015/TTLT-BTP-BTC-TTCP, TTLT số 04/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BNN&PTNT, TTLT số 19/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng bao gồm:

  • Phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp: Được áp dụng xuyên suốt 3 chương nhằm làm rõ cấu trúc lý luận, chuẩn hóa nội dung các quy phạm pháp luật và tổng kết thực trạng giải quyết bồi thường.
  • Phương pháp bình luận: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để phân tích, đánh giá tính hợp lý, đồng bộ hoặc mâu thuẫn giữa các điều khoản của Luật TNBTCNN năm 2017 với Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Phương pháp lịch sử: Dùng để khảo sát sự chuyển biến, phát triển của các quy định pháp luật về TNBTCNN qua các thời kỳ lập pháp tại Việt Nam.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Được sử dụng để đánh giá nhận thức, thực tiễn thi hành và ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức và người yêu cầu bồi thường.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được trích xuất từ các công trình nghiên cứu chuyên khảo trong nước (Nguyễn Minh Đoan - 2014, Đỗ Văn Đại và Nguyễn Trương Tín - 2016, Nguyễn Văn Hợi - 2017, Lê Thị Phương - 2019, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - 2021); kỷ yếu hội thảo quốc tế và bài báo nghiên cứu pháp luật so sánh (Pháp, Đức - Christian A. Brendel, Hàn Quốc - Hye-In Yoon); cùng các hồ sơ vụ việc thực tiễn và tài liệu thống kê của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 1 làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc trưng cốt lõi của TNBTCNN:

  • Định nghĩa và bản chất: TNBTCNN là một loại trách nhiệm pháp lý dân sự đặc thù về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó Nhà nước phải gánh chịu hậu quả bất lợi mang tính tài sản nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị xâm hại xuất phát từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, hoặc do tài sản công gây ra.
  • Đặc điểm của TNBTCNN:
    1. Mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: xác định thiệt hại dựa trên tổn thất thực tế, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và hướng tới phục hồi quyền lợi cho bên bị vi phạm.
    2. Bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất (mang tính tài sản) và bồi thường thiệt hại tinh thần (bù đắp tổn thất tâm lý, phục hồi danh dự, nhân phẩm).
    3. Là hậu quả bất lợi mà Nhà nước phải gánh chịu: làm phát sinh sự thâm hụt Ngân sách Nhà nước ngoài ý muốn chủ quan của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng quản lý.
    4. Chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra (được xác định dưới dạng Damnum emergens và Lucrum cessans).
    5. Có các đặc thù riêng: Hành vi gây thiệt hại phải gắn liền với hoạt động công vụ; chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường luôn là Nhà nước (thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền đại diện); người thi hành công vụ có lỗi có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân sách Nhà nước.
  • Điều kiện phát sinh TNBTCNN: Cần đáp ứng 3 điều kiện: (i) Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; (ii) Có thiệt hại thực tế về vật chất hoặc tinh thần; (iii) Có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 2 phân tích chi tiết quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 và đánh giá thực tiễn thi hành qua các khía cạnh:

Nhóm nội dung Quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 Bất cập, vướng mắc thực tiễn
Căn cứ phát sinh (Điều 7) Phải có văn bản làm căn cứ YCBT (khoản 5 Điều 3) thuộc 5 lĩnh vực (Điều 8-12); có thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả. Người bị thiệt hại gặp khó khăn nếu cơ quan nhà nước chậm trễ hoặc né tránh ban hành văn bản; gánh nặng chứng minh thiệt hại thực tế quá lớn đối với người bị tạm giữ, tạm giam khi vừa được trả tự do.
Cơ quan giải quyết (Điều 40) Áp dụng mô hình phân tán: Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện giải quyết; hoặc Tòa án giải quyết theo tố tụng. Tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; thiếu khách quan khi cơ quan gây thiệt hại trực tiếp thương lượng với người bị hại; cán bộ giải quyết kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu.
Nguyên tắc bồi thường (Điều 4) Kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật; bắt buộc thông qua thủ tục thương lượng; khấu trừ phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị hại. Nếu cơ quan giải quyết không nghiêm túc, biên bản thương lượng không thành làm kéo dài thời gian giải quyết vụ việc.
Thời điểm tính giá trị thiệt hại (Điều 22) Thống nhất tính tại thời điểm cơ quan trực tiếp quản lý thụ lý hồ sơ YCBT (hoặc thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại). Giúp khắc phục tính mơ hồ của Luật 2009 (trước đây tính tại thời điểm giải quyết bồi thường).
Thiệt hại về tài sản (Điều 23) Xác định hiện trạng tài sản tại thời điểm thiệt hại xảy ra; thu nhập mất do không sử dụng tài sản tính theo giá thuê trung bình 01 tháng; lãi suất chậm trả tính theo quy định của BLDS năm 2015. Bổ sung bồi thường khoản tiền phạt hợp đồng và lãi vay; mở rộng trường hợp vượt quá tình thế cấp thiết.
Thiệt hại về tinh thần (Điều 27) Tăng mức bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm từ 30 lên 50 tháng lương cơ sở; trường hợp người bị thiệt hại chết bồi thường cố định 360 tháng lương cơ sở. Đã lượng hóa rõ ràng, nâng cao mức bảo vệ quyền con người so với Luật năm 2009.
Chi phí khác được bồi thường (Điều 28) Bồi thường chi phí thuê phòng nghỉ, đi lại, in ấn tài liệu, thuê người bào chữa; chi phí thăm gặp của thân nhân người bị tạm giữ, tạm giam. Định mức khi không có hóa đơn: tối đa 06 tháng lương cơ sở/năm cho chi phí đi lại, in ấn; tối đa 01 tháng lương cơ sở/năm cho cước phí gửi đơn thư. Đã luật hóa các chi phí thực tế mà người khiếu nại, tố cáo phải bỏ ra để có được văn bản làm căn cứ YCBT.
Thiệt hại không bồi thường (Điều 32) Gom các trường hợp: Lỗi hoàn toàn của người bị hại; sự kiện bất khả kháng; tình thế cấp thiết; người được miễn TNHS theo BLHS; tự nhận tội thay; rút yêu cầu khởi tố; văn bản mới làm hết trách nhiệm hình sự; áp dụng BPKCTT hoặc BĐTHADS đúng yêu cầu của đương sự. Quy định tập trung, minh bạch hóa các giới hạn miễn trừ trách nhiệm của Ngân sách Nhà nước.
Thời hiệu yêu cầu bồi thường (Điều 6) Thời hiệu YCBT tại cơ quan trực tiếp quản lý là 03 năm kể từ ngày nhận văn bản làm căn cứ YCBT; thời hiệu khởi kiện tại Tòa án là 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc biên bản thương lượng. Luật 2017 chỉ quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu (bất khả kháng, trở ngại khách quan, chưa có người đại diện, gửi qua Sở Tư pháp) mà thiếu quy định về tính liên tục và gián đoạn của thời hiệu theo Điều 153 BLDS năm 2015 khi vụ việc đang được Tòa án giải quyết (dẫn chứng vụ việc bà T tại Nghệ An và vụ tranh chấp đất đai giữa ông A - ông B).

Chương 3: Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Chương 3 đề xuất hai nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện căn cứ phát sinh trách nhiệm: Quy định tiêu chí rõ ràng đối với "văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường", cơ chế buộc cơ quan nhà nước phải ban hành văn bản xác định hành vi trái pháp luật; giảm tải nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực tế cho người bị tạm giam, tạm giữ trái pháp luật.
    • Hoàn thiện mô hình cơ quan giải quyết: Bổ sung cơ chế giám sát độc lập đối với hoạt động thương lượng bồi thường của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ để khắc phục tâm lý e ngại, thiếu khách quan.
    • Hoàn thiện quy định về thời hiệu: Sửa đổi, bổ sung quy định về tính liên tục và các trường hợp gián đoạn thời hiệu yêu cầu bồi thường, bảo đảm tương thích với Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ quyền lợi của người yêu cầu bồi thường trong các vụ việc tranh chấp kéo dài qua nhiều cấp xét xử.
  2. Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật:
    • Bố trí và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn sâu về giải quyết bồi thường nhà nước thay cho chế độ kiêm nhiệm hiện nay.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TNBTCNN để nâng cao ý thức chấp hành công vụ của cán bộ và nhận thức về quyền yêu cầu bồi thường của người dân.
    • Tăng cường trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ có hành vi sai phạm có lỗi nhằm nâng cao tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và giảm thiểu gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể sau:

  • Về mặt khoa học và lý luận: Khóa luận làm sáng tỏ bản chất dân sự đặc thù của TNBTCNN trong mối quan hệ với quyền lực công, phân tích nguồn gốc lý luận về phân phối rủi ro và trách nhiệm giải trình của Nhà nước thông qua các học thuyết pháp lý kinh điển (Khế ước xã hội, cấu thành thiệt hại Damnum emergens và Lucrum cessans).
  • Về mặt lập pháp và thực tiễn:
    • Khóa luận hệ thống hóa và trích xuất toàn bộ các điểm mới có tính định lượng của Luật TNBTCNN năm 2017: Việc chuyển thời điểm tính giá trị thiệt hại sang thời điểm thụ lý hồ sơ (Điều 22); nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm từ 30 lên 50 tháng lương cơ sở; quy định mức bồi thường trường hợp chết là 360 tháng lương cơ sở (Điều 27); lượng hóa trần chi phí không có chứng từ (06 tháng và 01 tháng lương cơ sở theo Điều 28); quy định cụ thể thời hiệu 03 năm và 15 ngày khởi kiện.
    • Khóa luận phát hiện và phân tích sâu sắc khoảng trống pháp lý giữa Luật TNBTCNN năm 2017 và Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến tính gián đoạn của thời hiệu hưởng quyền dân sự thông qua các vụ việc thực tế (vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện B, tỉnh Nghệ An và vụ việc tranh chấp đất đai qua thủ tục giám đốc thẩm giữa ông A và ông B).
    • Đưa ra các kiến nghị lập pháp và giải pháp tổ chức thi hành có giá trị thực tiễn nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tập trung khai thác các khía cạnh quy phạm pháp luật thực định của Luật TNBTCNN năm 2017 và phân tích một số tình huống, vụ việc thực tế điển hình; phạm vi số liệu thực tiễn chưa bao quát được toàn bộ các báo cáo thống kê chuyên sâu về tình hình giải quyết bồi thường tại tất cả các bộ, ngành và địa phương trên cả nước trong giai đoạn 5 năm thi hành luật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng cơ chế giải quyết bồi thường tại Tòa án so với cơ quan hành chính; nghiên cứu sâu về cơ chế thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ có lỗi; đánh giá khả năng chuyển đổi mô hình cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước từ phân tán sang tập trung theo kinh nghiệm quốc tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hành chính, Luật Tố tụng hình sự thuộc các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về chế định bồi thường nhà nước và bảo đảm quyền con người.
  • Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, cán bộ quản lý công tác bồi thường tại các cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Thi hành án dân sự.
  • Người dân, doanh nghiệp và luật sư trong việc tìm hiểu quy trình, thủ tục, căn cứ tính toán mức thiệt hại và thời hiệu pháp lý khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất là hệ thống so sánh đối chiếu giữa Luật TNBTCNN năm 2017 với Luật năm 2009 tại Chương 2, cùng các phân tích tình huống thực tế về cách tính thời hiệu và các trường hợp không tính vào thời hiệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật TNBTCNN năm 2017, thời điểm tính giá trị thiệt hại được bồi thường có gì thay đổi so với Luật năm 2009? Theo Điều 22 Luật TNBTCNN năm 2017, thời điểm tính giá trị thiệt hại được xác định thống nhất tại thời điểm cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường (hoặc thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại). Quy định này thay thế cho cách quy định chung chung "tại thời điểm giải quyết bồi thường" của Luật năm 2009, tạo căn cứ rõ ràng và thuận lợi cho việc thương lượng, giải quyết.

2. Mức bồi thường tổn thất tinh thần đối với trường hợp bị xâm phạm sức khỏe và trường hợp chết được quy định như thế nào? Theo Điều 27 Luật TNBTCNN năm 2017, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được nâng từ 30 tháng lương cơ sở lên tối đa 50 tháng lương cơ sở. Đối với trường hợp người bị thiệt hại chết, khoản 4 Điều 27 quy định bồi thường một khoản chung cố định là 360 tháng lương cơ sở và không áp dụng cộng dồn các mức bồi thường tinh thần khác.

3. Khi không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì các chi phí khác được bồi thường theo hạn mức nào? Theo Điều 28 Luật TNBTCNN năm 2017, nếu người yêu cầu bồi thường không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì: (i) Chi phí thuê phòng nghỉ, đi lại, in ấn tài liệu được bồi thường không quá 06 tháng lương cơ sở cho 01 năm (tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại, tố cáo hoặc tham gia tố tụng đến khi có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực); (ii) Chi phí cước gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo được bồi thường không quá 01 tháng lương cơ sở cho 01 năm.

4. Thời hiệu yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý và thời hạn khởi kiện tại Tòa án được xác định ra sao? Thời hiệu yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý là 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (Điều 6). Trong trường hợp đã có quyết định giải quyết bồi thường hoặc biên bản thương lượng (thành nhưng cơ quan không ra quyết định, hoặc không thành), người yêu cầu bồi thường có thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận văn bản để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Vướng mắc pháp lý cơ bản giữa Luật TNBTCNN năm 2017 và Bộ luật Dân sự năm 2015 về vấn đề thời hiệu là gì? Luật TNBTCNN năm 2017 chỉ quy định các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu (bất khả kháng, trở ngại khách quan, chưa có người đại diện hợp pháp, gửi hồ sơ qua Sở Tư pháp) mà không quy định về tính liên tục và sự gián đoạn của thời hiệu theo Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi quyền sử dụng tài sản hoặc quan hệ tranh chấp đang được Tòa án thụ lý giải quyết. Điều này dẫn đến nguy cơ người dân bị từ chối thụ lý do hết thời hiệu 03 năm mặc dù vụ việc vẫn đang được các cơ quan tố tụng xem xét.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Huy Hùng đã hoàn thành xuất sắc việc nghiên cứu toàn diện chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Bằng việc phân tích sâu sắc các nền tảng lý luận, đối chiếu chi tiết quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 với các văn bản pháp luật liên quan và mổ xẻ các vụ việc thực tiễn, công trình đã chỉ rõ những bước tiến vượt bậc cũng như những khoảng trống pháp lý còn tồn tại. Các kiến nghị hoàn thiện điều kiện phát sinh, thời hiệu và mô hình giải quyết bồi thường được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam.