Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương Chương 3: Thực trạng trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay. 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm giải trình và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương liên quan đến đề tài - Về lý luận TNGT: Đề cập đến khái niệm, hình thức, phạm vi, nội dung và phân loại TNGT, qua tìm hiểu có: Công trình “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh”, cho rằng nội hàm khái niệm TNGT bao gồm hai yếu tố: khả năng giải đáp, là việc yêu cầu các công chức phải có khả năng giải đáp theo định kỳ những vấn đề liên quan đến việc họ đã sử dụng thẩm quyền của mình như thế nào, những nguồn lực được sử dụng vào đâu, với các nguồn lực đó đã đạt được kết quả gì và việc chịu trách nhiệm hậu quả xảy ra [75].
Công trình “Quản trị tốt lý luận và thực tiễn”, khẳng định: TNGT được tiếp cận khác nhau, trong khuôn khổ hoạt động của nhà nước được hiểu là trách nhiệm của cơ quan công quyền đã nhận quyền lực từ nhân dân và đặt ra mục tiêu thực thi quyền lực vì nhân dân, thì đồng thời có nghĩa vụ trả lời, lý giải và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Khẳng định phạm vi chủ thể và đối tượng hướng tới của TNGT là khác nhau giữa các quốc gia, phụ thuộc vào việc các quyết định và hành động được tiến hành hay áp dụng ở trong hay ở ngoài cơ quan, tổ chức đó. Và phân loại: TNGT trước cơ quan dân cử; TNGT nội bộ hành chính; TNGT trình tư pháp; TNGT chính trị; TNGT nghề nghiệp; TNGT xã hội. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế thường niên: Phát triển bền vững vùng Trung Bộ Việt Nam, “Xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo: Thực tiễn ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, tháng 10/2019.
Một số tham luận đã đề cập đến nguồn gốc, khái niệm, phân loại TNGT và TNGT của Chính phủ, hay đề cập đến việc xây dựng và thực hiện TNGT của Chính phủ kiến tạo Singapore, thông qua đó đã gợi mở một số vấn đề liên quan đến TNGT của Chính phủ trong xây dựng và vận hành Chính phủ kiến tạo ở Việt Nam [117]. Công trình “Thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm góp phần phòng, chống tham nhũng”, khẳng định: ở Việt Nam khái niệm TNGT 7 luan an được nhìn nhận khác nhau, luôn gắn với việc thực thi công vụ trong nền hành chính nhà nước và đưa ra khái niệm TNGT của CQHCNN trong thực thi công vụ nhằm phòng, chống tham nhũng. Và phân loại thành: TNGT của CQHCNN trước cơ quan quyền lực nhà nước; TNGT trong nội bộ CQHCNN; TNGT của CQHCNN với người dân [115]. Chương trình sáng kiến chống tham nhũng năm 2014 với chủ đề: "Tăng cường minh bạch, liêm chính và trách nhiệm giải trình”, đưa ra định nghĩa: TNGT là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực công phải cung cấp thông tin và làm rõ trách nhiệm về quyết định và hành vi của mình để người dân và các cơ quan giám sát có thể hiểu và đánh giá [79].
Công trình "Liêm chính và minh bạch trong kinh doanh vì sự phát triển bền vững", cho rằng: giải trình hay yêu cầu về tính giải trình còn được đề cập với tư cách là một yêu cầu quan trọng đối với việc thực hiện minh bạch, cụ thể là nhằm bảo đảm việc cung cấp đủ bằng chứng, căn cứ mang tính khách quan để giải thích hay làm rõ về các nội dung hoặc vấn đề cần minh bạch [59]. Công trình "Trách nhiệm giải trình trong phòng chống tham nhũng – Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam", của Bùi Phương Đình, cho rằng: TNGT là thuật ngữ có thể hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau và phân loại TNGT theo chiều dọc, chiều ngang và theo lĩnh vực chính trị, pháp lý/hành chính, xã hội [35]. Công trình “Những điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm góp phần phòng, chống tham nhũng”, cho rằng: hình thức TNGT chủ động là sự thể hiện ra bên ngoài, sự thừa nhận kết quả của việc thực hiện trách nhiệm công vụ của công chức và TNGT bị động hay còn gọi là TNGT theo yêu cầu có thể được coi là phương tiện, cơ chế đảm bảo việc nâng cao, duy trì trách nhiệm công vụ, chịu sự tác động của phản biện xã hội, giám sát xã hội. Bên cạnh đó, công trình cũng đề cập đến vai trò của TNGT trong thực hiện minh bạch hóa các quyết định, hành vi quản lý, hoạt động của các CQHCNN, góp phần phòng ngừa tham nhũng, quan liêu, lãng phí [116].
Công trình “Trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện Khoa học pháp lý, cho rằng, TNGT của CQHCNN là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước và cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan này, chủ động thực hiện việc giải trình hoặc phải thực hiện nhiệm vụ giải trình khi bị các cơ quan, tổ 8 luan an chức, cá nhân có liên quan yêu cầu, nhằm cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Nội dung TNGT là những vấn đề cụ thể mà các chủ thể có TNGT phải chuẩn bị và trả lời với các chủ thể quản lý cấp trên hoặc với các đối tượng quản lý có liên quan. Và cho rằng, dưới góc độ quản lý hành chính nội bộ và tác động ra bên ngoài có hình thức giải trình trong hệ thống và giải trình ra bên ngoài; dưới góc độ đối tượng tiếp nhận việc giải trình có TNGT đối với toàn thể nhân dân và TNGT đối với một hoặc một số nhóm đối tượng nhất định, hoặc xuất phát từ yêu cầu của chủ thể có hình thức giải trình chủ động và giải trình bị động [113]. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học "Trách nhiệm giải trình của Chính phủ trong hoạch định và thực thi chính sách công ớ Việt Nam hiện nay", cho rằng, TNGT là khái niệm thuộc phạm trù đạo đức và quản trị, là thuật ngữ chính trị - pháp lý, là một thuộc tính của người được ủy quyền trước người ủy quyền và các bên liên đới và khẳng định: đó là nghĩa vụ, trách nhiệm cung cấp thông tin, giải thích, trả lời một cách công khai, minh bạch gắn liền với việc nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm của người được ủy quyền đối với người ủy quyền và phải chịu trách nhiệm đối với kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với người ủy quyền [15].
Luận văn Thạc sĩ Luật học “Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước”của Trần Quyết Thắng, cho rằng, TNGT là quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và các cá nhân được nhà nước uỷ quyền, trong việc thực thi công vụ của mình, giải thích các thông tin và cam kết cũng như phải hứng chịu trách nhiệm khi để xảy ra hậu quả, một cách thường xuyên hoặc/và khi có yêu cầu, đối với cấp trên, các cơ quan, đại biểu dân cử, các thiết chế kiểm soát quyền lực khác thuộc nhà nước, các tổ chức ngoài nhà nước và công dân. Và phân loại dựa trên đối tượng giải trình, phương thức giải trình, chủ thể TNGT và khẳng định vai trò của TNGT trong quản lý nhà nước dưới góc nhìn quản trị nhà nước tốt, kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm soát xu hướng lợi ích trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước [78]. Công trình “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay“, Viện nghiên cứu Lập pháp [96] và “Báo cáo nghiên cứu điều trần tại các Ủy ban của nghị viện và khả năng áp dụng ở Việt Nam”, Văn phòng Quốc hội 9 luan an [109;tr1], đã có những phân tích, so sánh về hoạt động “nghe giải trình”, “giải trình” với “điều trần” trong hoạt động của các Ủy ban của Quốc hội ở Việt Nam với Nghị viện một số nước và so sánh các thuật ngữ “chất vấn”, “giải trình” và “điều trần”. Công trình "Những nội dung cơ bản của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hiến định và định hướng triển khai thực hiện", của Hà Thị Mai Hiên đã luận giải cơ sở tiếp cận và xác định TNGT của các cơ quan hiến định theo Hiến pháp năm 2013 đó là: nguyên tắc chủ quyền nhân dân và nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực của các cơ quan trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.
Khẳng định Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận TNGT của một số chủ thể tại một số điều khoản cụ thể [41]. Công trình “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình” của Trần Văn Long, cho rằng, về mặt học thuật và pháp lý, vẫn chưa có sự ghi nhận thống nhất khái niệm này và nội dung giải trình gồm: giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của chủ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Nội dung giải trình chỉ bị giới hạn đối với các nội dung thuộc danh mục bí mật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Khẳng định, có 02 hình thức: giải trình chủ động và giải trình khi có yêu cầu [142].
Công trình "Bàn về trách nhiệm giải trình" của Đinh Văn Minh, cho rằng: theo cách hiểu thông thường thì giải trình là giải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì. Trong hoạt động của bộ máy công quyền là việc cán bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Theo đó, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, phải có trách nhiệm thực thi công việc được giao đạt kết quả và phải chịu hậu quả khi chưa làm tròn trách nhiệm [145].