Chương 1. Co sở lí luận về tính công bang trong phán quyết của tòa án nhân dân. Tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân hiện nay. Những giải pháp pháp lí chủ yếu nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân.
Kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.LUẬN VỀ TÍNH CÔNG BẰNG TRONG PHÁN QUYẾT CUA TOA AN NHAN DAN 1. PHAN QUYET CUA TOA AN NHAN DAN 1. Khái niệm phán quyết của tòa án nhân dân Theo Từ điển tiếng Việt, phán quyết có nghĩa là “qu¥ét định để mọi người phải tuân theo”(17, tr740]. Nếu phân tích về mặt ngữ nghĩa, “phán” có nghĩa là phán đoán, phán xét, phán xử, nghĩa chung là nhận xét, đánh giá, kết luận về một vấn đề nào đó; “quyết” có nghĩa là định dứt khoát một việc gì sau khi đã cân nhắc để thực hiện.740,787] thì phán quyết còn được hiểu sâu sắc hơn là một quyết định dựa trên sự cân nhac, đánh giá, kết luận được ban ra để mọi người tuân theo, thực hiện.
| Với cả hai nghĩa nay, áp dụng trực tiếp vào hoạt động của tòa án (toa án nhân dân viết tắt là tòa án) thì sé dan đến cách hiểu: mọi quyết định được thé hiện dưới dạng các văn bản tố tụng là bản án và quyết định do tòa án ban hành sẽ đều được coi là phán quyết của tòa án. Hiểu như vậy là theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, nếu xem xét phán quyết gắn với chức năng đặc thù của tòa án thì phán quyết của tòa án sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn ở những dạng nhất định (trong luận văn này chỉ đề cập đến phán quyết gắn với chức năng của tòa án). Như chúng ta đã biết, để quản lí xã hội, bên cạnh việc nhà nước phải làm ra pháp luật và quản lí các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật, nhà nước còn phải giữ gìn pháp luật khỏi sự xâm hại, phục hồi và duy trì trật tự pháp luật để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội.
Đó là hoạt động tất yếu của quyền lực nhà nước - quyền tư pháp với chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ, duy trì công lí, công bằng. Phương thức đặc thù thực hiện quyền tư pháp là hoạt động tài phán, nghĩa là đưa các hành vi, tranh chấp pháp lí liên quan đến những con người, tổ chức nhất định áp vào các qui định của pháp luật, đối chiếu, làm sáng tö mối tương quan giữa cái cá biệt là hành vi, tranh chấp với cái khuôn chung là qui phạm luật pháp để đánh giá, phán xét bản chất pháp lí, tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, tranh chấp, để từ đó đi đến một quyết định có tính bắt buộc thi hành đối với mọi người mà trước hết là những người, tổ chức có lợi ích liên quan. 6 Bằng việc các quyết định, bản án nhân danh nhà nước được tuyên bố và thi hành, các giá trị pháp luật bi vi phạm sẽ được khẳng định lại, công lí được duy trì, sự công bằng, lẽ phải của pháp luật được bảo vệ. Qua đó, phán quyết được thể hiện là một giai đoạn tiếp theo, kết quả của quá trình phán đoán, phán xét và là cơ sở của thi hành án trong hoạt động tài phán.
Nghĩa là sau khi đã làm rõ nội dung, thực chất của những hành vi, con người, sự kiện qua hoạt động phán đoán, suy luận, đánh giá các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, hợp lí của hành vi, tranh chấp qua hoạt động phán xét; chủ thể tiến hành cân nhắc để quyết định về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm, quyết định cách thức giải quyết tranh chấp; qua đó làm cơ sở cho việc khôi phục các quyền, lợi ích bị xâm phạm, bảo vệ và duy trì pháp luật, công lí và công bằng. Phán quyết là một hoạt động cân nhắc để ra quyết định (hoặc nói gọn là quyết định) về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm hoặc về giải quyết tranh chấp để đem ra thi hành. Ở nước ta, quyền tư pháp được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn do các cơ quan tư pháp thực hiện với những đặc trưng nhất định. Theo kết quả nghiên cứu, đa số các nhà luật học hiện nay đều thống nhất thực hiện quyền tư pháp là hoạt động có những đặc trưng sau đây: - Quyền tư pháp được thực hiện khi.
có hành vi bị cho là vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm) hoặc có tranh chấp pháp lí mà các bên không tự thương lượng, hòa giải được cần đến phán quyết của nhà nước; - Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật thực hiện (gọi chung là các cơ quan tư pháp - cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thi hành án) nhằm ra các phán quyết đối với các hành vi bị cho là vi phạm pháp luật hoặc phán quyết về cách giải quyết tranh chấp đối với các cá nhân, tổ chức; - Quyền tư pháp được thực hiện bởi các cơ quan và chức danh tư pháp và bổ | trợ tư pháp, bằng nhiều hoạt động độc lập với các chức năng riêng, dién ra liên tục theo một qui trình chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục nghiêm ngặt dựa trên phương thức đặc thù là tài phán, phục vụ hoạt động trọng tâm là xét xử của tòa án. Qua những đặc trưng trên cho thấy, hoạt động tài phán là hoạt động phức hợp được thực hiện bởi nhiều co quan và các chức danh khác nhau, trong đó, các hoạt động phán đoán, phán xét, thi hành án do các cơ quan và chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp thực hiện, còn phán quyết là hoạt động chỉ do tòa án thực hiện với chức năng đặc trưng là xét xử. Xét xử là một dạng hoạt động tài phán do tòa án thực hiện (nghĩa là tòa án chỉ thực hiện hoạt động phán đoán, phán xét và phán quyết) mà theo PGS.TS Nguyễn Dang Dung đã định nghĩa: “xé; xứ là phương thức, là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước. Đó là hoạt động của cơ quan tòa án được nhân danh quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của nhà nước đưa ra một phán quyết cuối cùng có hiệu lực bắt buộc đối với một tranh chấp cụ thể (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.
Đó là sự biểu thị thái độ trực tiếp của nhà nước về các vụ việc cụ thể trong lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chinh. Từ những co sở trên cho chúng ta cách hiểu về phán quyết của tòa án, đó là một hoạt động cân nhac để ra quyết định (hoặc quyết định) về trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm, quyết định bị cáo không phạm tội hoặc quyết định về giải quyết tranh chấp đối với vụ án cụ thể, được hình thành chủ yếu thông qua con đường xét xử, làm cơ sở cho việc thi hành án: Tùy từng trường hợp mà có cách hiểu cho phù hợp, nếu quyết định vấn dé phức tạp như hình phat, cách thực hiện quyền và nghĩa vụ. thì chủ thể phải cân nhắc nhiều mặt trước khi ra quyết định; nếu vấn đề đã rõ ràng sau khi đã được làm rõ bởi hoạt động phán đoán, phán xét thì chủ thể có thể quyết định ngay vi du: bi cáo vô tội thì chủ thể quyết định bị cáo không phạm tội hoặc đã khẳng định quyết định hành chính là đúng pháp luật thì quyết định bác đơn khiếu kiện của người khiếu kiện. Phán quyết của tòa án được thực hiện chủ yếu thông qua con đường xét xử chứ không phải duy nhất qua con đường xét xử bởi lẽ trong quá trình giải quyết các vụ án, các đương sự trong vụ án phi hình sự có thể thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết tranh chấp mà thông qua hoạt động phán đoán, phán xét là phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, tòa án có quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương su mà không cần phải đưa ra xét xử.
Ngoài ra, 8 trong vụ án hình sự, ở cấp giám đốc thẩm, tái thẩm, là cấp xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù không phải là cấp xét xử nhưng một trong số quyết định của nó lại chứa đựng quyết định về trách nhiệm pháp lí đối với người bị coi là tội phạm, đó là quyết định hủy bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án. 1 Nếu thông qua con đường xét xử, hình thức ghi nhận phán quyết chính là bản án được biểu hiện tập trung ở nội dung phần quyết định của bản án. Lưu ý phần quyết định của bản án phải là quyết định trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm, quyết định bị cáo không phạm tội hoặc quyết định giải quyết tranh chấp chứ không phải là quyết định nói chung (tránh cách hiểu mọi bản án đều chứa đựng phán quyết vì có trường hợp cấp phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại bằng hình thức là bản án). Nếu không thông qua xét xử, hình thức ghi nhận phán quyết được thể hiện tập trung ở nội dung phần quyết định trong văn bản quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc trong quyết định của cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.
Theo quy định pháp luật hiện hành, chức năng của tòa án không chỉ là xét xử để ra phán quyết đối với các hành vi bị cho tội phạm hoặc giải quyết các tranh chấp nhằm bảo vệ pháp luật, mà còn thực hiện một số hoạt động mang tính chất hành pháp - áp dụng pháp luật để ra các quyết định công nhận hay không công nhận đối với các yêu cầu về quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mai và lao động; công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lí là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định đối với yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Và để thực hiện việc này, tòa án không phải tiến hành xét xử mà chỉ mở phiên họp để xem xét liệu có cơ sở để chấp nhận các yêu cầu đó hay không và ghi nhận sự quyết định này dưới hình thức là văn bản quyết định.