Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn" do nghiên cứu sinh Phạm Quý Ty thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (năm 2000), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Xuân Đức và TS. Phan Trung Lý. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Nhà nước, mã số 50505.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986), đường lối đổi mới kinh tế đã chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi chính sách đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân, mở đầu bằng Quyết định số 27-HĐBT ngày 09/03/1989 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là việc Quốc hội khóa VIII thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty vào ngày 21/12/1990, đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đến hết năm 1999, cả nước đã có trên 20.000 doanh nghiệp tư nhân và trên 10.000 công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, huy động nguồn vốn hàng nghìn tỷ đồng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, thực tiễn quản lý nhà nước giai đoạn này bộc lộ nhiều bất cập: tốc độ phát triển của hai loại hình doanh nghiệp này có chiều hướng chững lại; công tác quản lý của các cơ quan nhà nước còn lúng túng; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ, nhiều quy định mang tính luật khung và thủ tục hành chính rườm rà. Mặt khác, tình trạng vi phạm pháp luật trong khu vực kinh tế tư nhân diễn biến phức tạp (như lừa đảo, trốn thuế, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), một phần do buông lỏng quản lý. Các công trình nghiên cứu trước đó về vấn đề này dưới giác độ hành chính học và luật học còn rời rạc, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ chế Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường như một tất yếu khách quan; luận giải tính tất yếu và nội dung của việc Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
- Nhiệm vụ thứ hai: Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam trong giai đoạn 1990–1999 trên các phương diện: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, và công tác thanh tra, kiểm tra;
- Nhiệm vụ thứ ba: Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh tế, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, đổi mới quy trình đăng ký kinh doanh và nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra nhằm thiết lập cơ chế quản lý bằng pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý của Nhà nước bằng công cụ pháp luật đối với hai loại hình doanh nghiệp cụ thể là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn (phần lớn là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ).
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng trên phạm vi toàn quốc, đồng thời đi sâu khảo sát thực tế tại địa bàn tỉnh Hà Bắc (cũ) và tỉnh Bắc Giang thông qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh do tác giả trực tiếp chủ nhiệm.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến năm 1999–2000, thời điểm tổng kết gần 10 năm thi hành Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Công ty năm 1990 và chuẩn bị thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học đã công bố liên quan đến quản lý kinh tế và pháp luật kinh tế:
- Chu Hồng Thanh (1993): Luận án Phó tiến sĩ Luật học với đề tài "Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay", tiếp cận ở bình diện khái quát về vai trò của pháp luật trong quản lý kinh tế vĩ mô;
- Bùi Xuân Đức (1990): Luận án Phó tiến sĩ Luật học với đề tài "Thẩm quyền của chính quyền địa phương trong quản lý kinh tế", tập trung vào phạm vi quyền hạn quản lý kinh tế của cấp chính quyền cơ sở;
- Trần Trọng Hựu (1994): Chuyên khảo "Pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" (in trong tuyển tập Xã hội và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia), phân tích phương diện quản lý xã hội tổng thể;
- Hoàng Kim Giao (1990): Bài viết "Quản lý nhà nước đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh" (Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 3/1990), phản ánh giai đoạn đầu khi khu vực ngoài quốc doanh mới được thừa nhận;
- Dương Đăng Huệ (1994): Bài viết "Pháp luật về việc cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh ở Việt Nam, thực trạng và một vài kiến nghị" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1994), phân tích chuyên sâu về thủ tục gia nhập thị trường;
- Trần Văn Thông (1993): Bài viết "Thực hiện Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ở Thành phố Hà Nội" (Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 3/1993), khảo sát việc thi hành luật tại một địa bàn cụ thể;
- Nguyễn Thị Thu Vân (1996): Luận án Thạc sĩ "Một số vấn đề hoàn thiện Luật Công ty", tập trung vào việc sửa đổi các quy định nội tại của văn bản Luật Công ty năm 1990.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định các công trình nêu trên chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng biệt (thẩm quyền địa phương, thủ tục hành chính cụ thể, hoặc hoàn thiện một đạo luật đơn lẻ) mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về toàn bộ cơ chế quản lý của Nhà nước bằng pháp luật đối với cả hai loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh, khảo sát thực tiễn liên ngành và đề xuất giải pháp đồng bộ từ lập pháp, hành pháp đến thanh tra, giám sát.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật:
- Quan điểm của V.I. Lênin trong Chính sách kinh tế mới (NEP): Vận dụng lý luận về cơ cấu kinh tế 5 thành phần trong thời kỳ quá độ (kinh tế nông dân gia trưởng, sản xuất hàng hóa nhỏ, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội). Tác giả trích dẫn quan điểm của Lênin khẳng định việc duy trì nhiều thành phần kinh tế là tất yếu khách quan, không thể xóa bỏ bằng mệnh lệnh chủ quan, và Nhà nước công nhân phải sử dụng công cụ kiểm soát để định hướng các quan hệ tư bản phát triển có chừng mực, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
- Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII khẳng định chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Khung pháp lý Hiến định: Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 (Điều 16, Điều 21, Điều 22, Điều 26, Điều 58) về quyền tự do kinh doanh, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Phân tích mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự chuyển dịch cơ chế quản lý kinh tế qua hai giai đoạn lịch sử (trước và sau năm 1986);
- Phương pháp xã hội học: Điều tra, khảo sát thực tế hoạt động quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và các doanh nghiệp;
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và so sánh các số liệu về số lượng doanh nghiệp thành lập, quy mô vốn đầu tư, tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế và vi phạm pháp luật;
- Phương pháp kết hợp diện rộng và nghiên cứu trường hợp điển hình: Khảo sát khái quát toàn quốc kết hợp đi sâu nghiên cứu thực tế tại tỉnh Hà Bắc (cũ) và tỉnh Bắc Giang. Tác giả trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài khoa học cấp tỉnh: "Góp phần nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn tỉnh Bắc Giang", phối hợp với 8 cơ quan quản lý cấp tỉnh gồm: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Địa chính, Cục Thuế, Ban Kinh tế Tỉnh ủy, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, Sở Tài chính; tiến hành khảo sát hàng trăm doanh nghiệp trên địa bàn;
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu các quy định pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines và Trung Quốc nhằm rút ra kinh nghiệm hoàn thiện quy định trong nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta
Chương 1 gồm 3 tiết (trang 11–69), tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:
- Tiết I: Chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ sở để phát triển doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tác giả phân tích tiến trình lịch sử qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1986: Nền kinh tế chỉ thừa nhận hai thành phần kinh tế (quốc doanh và tập thể) theo tinh thần Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Kinh tế tư nhân bị coi là đối tượng cải tạo, quản lý dựa trên chỉ tiêu pháp lệnh hành chính, triệt tiêu động lực sản xuất và dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thập niên 1980.
- Giai đoạn sau năm 1986: Đại hội VI khởi xướng đổi mới, thừa nhận tính khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần. Hiến pháp 1992 (Điều 21) chính thức xác lập địa vị pháp lý cho kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân. Tác giả khẳng định nếu để thị trường phát triển tự phát sẽ dẫn tới tư bản chủ nghĩa, do đó Nhà nước phải quản lý để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiết II: Sự cần thiết Nhà nước phải quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án phân tích cơ sở khách quan của quản lý nhà nước xuất phát từ bản chất xã hội của quá trình lao động (dẫn luận Các Mác). Pháp luật là công cụ quản lý văn minh và hiệu quả nhất, tác động đồng thời lên hai hệ thống:
- Hệ thống quản lý: Kiện toàn bộ máy, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, quy định trình tự thủ tục giải quyết công việc và ngăn chặn lạm quyền;
- Hệ thống chịu sự quản lý: Xác lập khuôn khổ hành vi, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, phòng ngừa các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, lừa đảo và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Tiết III: Nội dung Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án chỉ ra ba trụ cột nội dung quản lý:
- Ban hành pháp luật tạo môi trường pháp lý: Thể chế hóa 4 nguyên tắc cơ bản gồm: tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật; bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với tư liệu sản xuất và tài sản (Điều 58 Hiến pháp 1992, Điều 4 Luật Doanh nghiệp tư nhân, Điều 5 Luật Công ty); công nhận sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp tư nhân; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật giữa mọi thành phần kinh tế (Điều 22 Hiến pháp 1992).
- Tổ chức thi hành pháp luật: Quản lý các khâu gia nhập thị trường (cấp phép thành lập, cấp đăng ký kinh doanh), quản lý đất đai, cấp tín dụng, quản lý lao động và nghĩa vụ tài chính.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Giám sát việc chấp hành quy định pháp luật của doanh nghiệp.
| Trụ cột quản lý bằng pháp luật |
Nội dung pháp lý cụ thể theo luận án |
Căn cứ văn bản chủ yếu |
| 1. Ban hành pháp luật |
- Bảo đảm quyền tự do kinh doanh - Bảo hộ quyền sở hữu tư nhân - Công nhận sự tồn tại lâu dài - Xác lập sự bình đẳng trước pháp luật |
Hiến pháp 1992 (Điều 16, 21, 22, 26, 58) Luật DNTN 1990 (Điều 4) Luật Công ty 1990 (Điều 5) |
| 2. Tổ chức thi hành pháp luật |
- Phân định thẩm quyền cấp phép và đăng ký kinh doanh - Kiểm soát điều kiện ngành nghề, vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề - Quản lý thuế, đất đai, lao động |
Nghị định 221/HĐBT, 222/HĐBT Luật Doanh nghiệp 1999 |
| 3. Thanh tra, kiểm tra |
- Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ đối với Nhà nước - Xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận, lừa đảo |
Các quy định về thanh tra chuyên ngành |
Chương 2: Thực trạng Nhà nước quản lý bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 2 gồm 2 tiết (trang 70–128), đánh giá thực trạng thể chế và thực tiễn thi hành:
- Tiết 1: Thực trạng về việc Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án đánh giá hệ thống pháp luật giai đoạn 1990–1999:
- Mặt tích cực: Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990 đã tạo hành lang pháp lý ban đầu giải phóng năng lực sản xuất, hình thành trên 30.000 doanh nghiệp thuộc hai loại hình tính đến cuối năm 1999.
- Hạn chế: Các văn bản còn mang tính "luật khung", phụ thuộc nhiều vào nghị định, thông tư hướng dẫn; tồn tại sự phân biệt đối xử bất lợi cho khu vực tư nhân so với doanh nghiệp nhà nước trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, thuê đất đai và chính sách thuế.
- Tiết 2: Nhà nước tổ chức thi hành pháp luật để quản lý các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án đi sâu phân tích hai khâu chính:
- Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo cơ chế 2 bước (giai đoạn trước năm 2000):
- Bước 1 - Cấp giấy phép thành lập: Thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh. Đối với 7 nhóm ngành nghề đặc biệt (sản xuất thuốc nổ/hóa chất độc; khai thác khoáng sản quý; sản xuất/cung ứng điện nước quy mô lớn; bưu chính viễn thông/truyền thông/xuất bản; vận tải viễn dương/hàng không; chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu; du lịch quốc tế), thẩm quyền quyết định thuộc Thủ tướng Chính phủ (thời hạn xem xét: 60 ngày với DNTN, 90 ngày với công ty TNHH). Đối với các ngành nghề quy định tại Điều 5 Luật DNTN và Điều 11 Luật Công ty, UBND tỉnh phải lấy ý kiến hiệp y của Bộ quản lý ngành theo Nghị định 221 và Nghị định 222/HĐBT. Tác giả chỉ rõ quy định hiệp y này tạo ra rào cản hành chính rườm rà, xin-cho tiêu cực.
- Bước 2 - Đăng ký kinh doanh: Do cơ quan kế hoạch cấp để xác nhận tư cách pháp lý chính thức. Việc tách rời hai thủ tục này gây tốn kém thời gian và chi phí cho nhà đầu tư (vấn đề này được khắc phục khi Luật Doanh nghiệp 1999 gộp hai thủ tục thành một quy trình đăng ký kinh doanh duy nhất từ ngày 01/01/2000).
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật: Luận án nêu rõ tình trạng thanh tra, kiểm tra bị phân tán, chồng chéo giữa nhiều cơ quan (thuế, lao động, công an, quản lý thị trường, địa chính), dẫn đến hiện tượng vừa gây sách nhiễu cho doanh nghiệp, vừa bỏ lọt các sai phạm nghiêm trọng (báo cáo tài chính sai sự thật, buôn lậu, trốn thuế). Khảo sát tại Bắc Giang cho thấy sự phối hợp giữa 8 cơ quan chức năng cấp tỉnh còn thiếu cơ chế trao đổi thông tin định kỳ.
Chương 3: Những phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 3 gồm 2 tiết (trang 129–171), đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Tiết 1: Tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án kiến nghị:
- Khẩn trương cụ thể hóa và thực thi đồng bộ Luật Doanh nghiệp năm 1999;
- Bổ sung quy định công nhận mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu;
- Cho phép chuyển đổi hình thức pháp lý từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
- Mở rộng quyền của cá nhân, doanh nghiệp tư nhân được góp vốn vào công ty hợp danh;
- Sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp để đơn giản hóa thủ tục tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản, giải quyết tình trạng doanh nghiệp "chết nhưng không thể chôn".
- Tiết 2: Hoàn thiện các cơ quan quản lý nhà nước để thi hành pháp luật và tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Luận án đề xuất:
- Kiện toàn cơ quan đăng ký kinh doanh: Xây dựng hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh chuyên nghiệp, có chức năng lưu giữ và cung cấp thông tin công khai về tình trạng pháp lý, vốn, ngành nghề của doanh nghiệp. Thông qua việc công khai thông tin, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và xã hội tự kiểm tra, giám sát lẫn nhau, giảm tải gánh nặng cho bộ máy hành chính nhà nước.
- Phân định rõ thẩm quyền: Ranh giới rành mạch giữa quản lý nhà nước theo ngành (Bộ, Sở chuyên ngành) và quản lý nhà nước theo lãnh thổ (UBND các cấp); chấm dứt tình trạng cơ quan quản lý can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều hành nội bộ của doanh nghiệp.
- Đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra: Thống nhất đầu mối thanh tra, xây dựng quy chế phối hợp liên ngành nhằm chấm dứt tình trạng thanh tra trùng lặp nhiều lần trong năm đối với một doanh nghiệp; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật theo chế tài hành chính và hình sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Tiếp cận toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý: Lần đầu tiên xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Xác lập mô hình 3 nội dung quản lý: Luận chứng rõ ràng cơ chế quản lý nhà nước bằng pháp luật bao gồm ba cấu phần gắn kết hữu cơ: (1) Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (2) Hoạt động tổ chức thi hành pháp luật; (3) Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa công cụ pháp luật và định hướng xã hội chủ nghĩa: Chứng minh rằng quản lý bằng pháp luật là phương thức hiệu quả nhất để vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân, vừa giữ vững định hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị lập pháp
- Kiến nghị bổ sung loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân: Đề xuất cơ sở pháp lý để cá nhân được thành lập công ty TNHH có tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm hữu hạn, không chỉ giới hạn chủ sở hữu là tổ chức.
- Kiến nghị cơ chế chuyển đổi loại hình doanh nghiệp: Đề xuất cho phép doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên nhằm bảo vệ tài sản cá nhân và thúc đẩy tích tụ vốn.
- Mở rộng quyền góp vốn vào công ty hợp danh: Kiến nghị cho phép các chủ thể kinh tế tư nhân tham gia liên kết vốn đa dạng hơn.
- Cải cách thủ tục gia nhập thị trường và công khai thông tin: Đề xuất xóa bỏ thủ tục hiệp y bộ ngành đối với UBND tỉnh trong cấp phép; thống nhất thủ tục đăng ký kinh doanh và thiết lập cơ chế công khai hóa thông tin doanh nghiệp phục vụ cơ chế tự giám sát xã hội.
- Đề xuất sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp: Tháo gỡ các vướng mắc trong việc giải thể, phá sản doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào khuôn khổ hai loại hình là doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn dưới góc độ Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990 trong giai đoạn chuyển tiếp sang Luật Doanh nghiệp 1999. Do đó, các loại hình tổ chức kinh doanh khác (như công ty cổ phần, công ty hợp danh) chưa được phân tích sâu ở mức độ tương đương. Khảo sát thực tế cấp tỉnh chủ yếu tập trung tại địa bàn tỉnh Bắc Giang và Hà Bắc (cũ).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá tác động thực tế sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 chính thức đi vào cuộc sống; mở rộng nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước đối với các loại hình công ty cổ phần, công ty hợp danh và các tập đoàn kinh tế tư nhân hình thành trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật/kinh tế: Cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống về lịch sử lập pháp kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986–2000, đặc biệt là sự chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường và quá trình hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp khung phân tích về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Khoa học Quản lý kinh tế.
- Đối với cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Các phân tích về thủ tục đăng ký kinh doanh, chức năng lưu trữ thông tin doanh nghiệp và cơ chế phối hợp thanh tra liên ngành cung cấp bài học thực tiễn hữu ích cho việc cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định thẩm quyền cấp phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH theo pháp luật giai đoạn 1990–1999 như thế nào?
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990, thẩm quyền xem xét, cấp phép thành lập được phân định:
- Thủ tướng Chính phủ: Xem xét, quyết định đối với 7 ngành nghề đặc thù (sản xuất thuốc nổ/hóa chất độc; khai thác khoáng sản quý; điện nước quy mô lớn; bưu chính viễn thông/truyền thông/xuất bản; vận tải viễn dương/hàng không; chuyên doanh xuất nhập khẩu; du lịch quốc tế). Thời hạn trả lời đơn là 60 ngày đối với DNTN và 90 ngày đối với công ty TNHH. Khi được Thủ tướng chấp thuận, Chủ tịch UBND tỉnh sẽ cấp giấy phép.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Xem xét và cấp giấy phép thành lập đối với các ngành nghề còn lại. Đối với những ngành nghề thuộc Điều 5 Luật DNTN và Điều 11 Luật Công ty, UBND tỉnh phải trao đổi, hiệp y với Bộ quản lý ngành trước khi cấp phép (theo Nghị định 221 và Nghị định 222/HĐBT).
2. Tác giả đã chỉ ra những điểm bất cập lớn nhất của thủ tục thành lập doanh nghiệp thời kỳ 1990–1999 là gì?
Hai bất cập lớn nhất được luận án phân tích gồm:
- Quy định UBND tỉnh phải lấy ý kiến hiệp y của Bộ quản lý ngành chuyên môn trước khi cấp phép thành lập tạo ra tầng nấc trung gian, kéo dài thời gian và làm phát sinh cơ chế xin-cho phiền hà;
- Tồn tại quy trình hành chính 2 bước tách rời (cấp giấy phép thành lập tại UBND tỉnh rồi mới sang cơ quan kế hoạch cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), gây tốn kém thời gian và chi phí cho người dân. Thủ tục này sau đó đã được khắc phục khi gộp lại thành một bước đăng ký kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 1999.
3. Phương pháp nghiên cứu thực địa tại địa phương được tác giả tiến hành cụ thể như thế nào?
Tác giả đã trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài khoa học cấp tỉnh: "Góp phần nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn tỉnh Bắc Giang". Đề tài có sự tham gia phối hợp của 8 cơ quan cấp tỉnh tại Bắc Giang (Văn phòng UBND tỉnh, Sở KH&ĐT, Sở Lao động, Sở Địa chính, Cục Thuế, Ban Kinh tế Tỉnh ủy, Ngân hàng Nhà nước, Sở Tài chính), tiến hành khảo sát thực tế hàng trăm doanh nghiệp để thu thập dữ liệu về quản lý vốn, đất đai, lao động, thuế và thanh tra.
4. Luận án đề xuất giải pháp gì về việc thành lập và chuyển đổi mô hình công ty TNHH một thành viên?
Luận án kiến nghị Nhà nước cần sớm bổ sung quy định cho phép cá nhân được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (thời điểm đó pháp luật chỉ mới bước đầu dự liệu cho tổ chức). Đồng thời, luận án đề xuất cơ chế cho phép doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi hình thức sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên để tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp tư nhân bảo vệ tài sản cá nhân thông qua chế độ trách nhiệm hữu hạn và mở rộng quy mô kinh doanh.
5. Vai trò của cơ quan đăng ký kinh doanh được luận án định vị như thế nào trong cơ chế quản lý mới?
Luận án chỉ rõ cơ quan đăng ký kinh doanh không chỉ thuần túy làm thủ tục cấp phép mà phải trở thành trung tâm lưu giữ và công khai cung cấp thông tin pháp lý của doanh nghiệp cho xã hội. Thông qua việc tiếp cận thông tin minh bạch, các đối tác kinh doanh và cộng đồng có thể tự giám sát lẫn nhau, từ đó thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và giảm bớt gánh nặng thanh tra trực tiếp của cơ quan nhà nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quý Ty là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu toàn diện về hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, khảo sát thực tiễn toàn quốc và nghiên cứu thực địa tại tỉnh Bắc Giang, luận án đã làm rõ 3 nội dung quản lý cơ bản và chỉ ra những hạn chế của khung khổ pháp luật giai đoạn 1990–1999. Các đề xuất về công nhận công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ, chuyển đổi mô hình doanh nghiệp tư nhân, đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh và công khai hóa thông tin doanh nghiệp có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.