phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương, 8 tiết và danh mục tài liệu tham khảo. 10 Chương Ì CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN, CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN Ở NƯỚC TA 1.Chính sách phát triển nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ sở để phát triển doanh nghiệp tu nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Sự phát triển của xã hội có thể dién ra theo những con đường khác nhau, tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thổ của mỗi nước. Ở Viel Nam, sau khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân phong kiến ở miền Bắc nam 1954, và sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chúng ta bat tay ngay vào xảy dựng chính quyền vô sản, tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn trên thế giới, chúng la đã tiến hành công nghiệp hoá, tạo ra tiền dé vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất làm cơ sở hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.
Tuy nhiên, kết quả hàng chục năm xây dựng chủ nghĩa xã hội da Không được như chúng ta mong muốn. Sản xuất chậm phái triển, nền kinh tế không ổn định, đất nước rơi vào trạng thái khủng hoảng từ cuối những nam 1980. Mac dù trong nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã hết sức cố gắng chấn chính, cải tiến quản lý các đơn vị kinh tế, nhưng do vẫn trong khuôn khổ nhân thức và cơ chế cũ nên không thu được kết quả khả quan. Trước yêu cầu thực tế của xã hội, với những đòi hỏi của cuộc sống, Dang ta đã tổng kết thực tiễn và ra Nghị quyết Trung ương 6 (khoá 6) nim 1] ,a79 dé ra chính sách phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ca trong sản xuất ng nghiệp và nông nghiệp.
Tiếp theo là Chi thị 100 của Bộ Chính trị (1- 0#) về phát triển nông nghiệp, đã tạo ra những chuyển biến bước đầu quan yong, nhưng vẫn chưa cơ bản va triệt để. Do đó, tình hình sản xuất có tiến bộ được trong vài năm sau đó lại xấu đi. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần hu 6 (1986) đã đề-ra việc tiến hành đổi mới toàn điện, trên mọi mặt của đời sóng xã hội, nhằm phát triển kinh tế đất nước. Sau Nghị quyết Đại hội 6, về cong nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn có các Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị và Quyết định 27/HĐBT ngày 9-3-1989 của Hội đồng Bộ trưởng về phát tien kinh tế tư nhân.
Do vậy, kinh tế tư nhân không còn bi coi là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa như trước, mà được khuyến khích phát triển, và trên thực tế đã phát triển rất nhanh cả về số lượng xí nghiệp và vốn đầu tư. Trước yêu cầu đó, Đảng đã đề ra chủ trương phải xem xét lại phương thức và con đường đưa đất nước tiến lên. Xác định nước ta từ một nước tiền tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta không thể bỏ qua việc xây dựng các cư sở Vật chất- kỹ thuật ở trình độ mà chủ nghĩa tu bản đã đạt được. Bởi vì, chính cơ sở vật chất- kỹ thuật ấy là cơ sở, nền tảng của sự phát triển xã hội, và cùng với việc phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao, nó là cơ sở của sự hình thành và phát triển quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất xã hoi chủ nghĩa.
Chủ trương mà Dang ta đã nêu ra có cơ sở lý luận và thực tiễn dược thể hiện như sau: Về cơ sở lý luận, Kinh tế chính trị Mác-Lênin đã chỉ ra rằng, trong lịch sử phát triển kinh tế- xã hội hiếm có một nền kinh tế thuần nhất. Thông thường trong một chế độ kinh tế- xã hội đương thời vẫn tồn tại những tàn dư của phương thức sản xuất trước và chứa đựng những nhân tố của phương thức sẵn xuất kế sau. Những phương thức sản xuất tiêu biểu cho chế độ kinh tế- xã hội hiện thời giữ địa vị thống trị, chi phối, còn các tàn dư và nhân tố của "hững phương thức sản xuất khác ở vào địa vị lệ thuộc, bị chi phối. Nhưng 2 oes lịch sử của mọi nước lại có những giai doan mà xã hội dang trong bước ~~ từ chế độ nay sang chế độ khác, ở đó không có phương thức san xuất aww giữ địa vị thống trị, vì phương thức sản xuất đã từng giữ địa vị thống trị song thời kỳ trước đang suy thoái, không còn đủ sức để chi phối nên kinh tế quốc dan nữa và phương thức sản xuất mới dang lớn lên nhưng chưa giành được địa VỊ thống trị.
Đó chính là thời kỳ quá độ, trong đó mọi phương thức sạn xuất chỉ là một mảnh, một bộ phan của kết cấu kinh tế xã hội vừa có tính doc lập tương đối, vừa có tính tương trợ lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Mỗi bộ phận là một thành phần kinh tế- xã hội. Một trong những thành phần ấy sẽ vươn lên giữ vai trò chủ đạo, lôi cuốn các thành phần khác theo định hướng của mình và tiến tới giữ địa vị thống trị nền kinh tế quốc din. Tuy thế tiến trình lịch sử đã cho thấy có những thành phần kinh tế không bao giờ giữ vai trò chủ đạo và không thể vươn lên giữ địa vị thống trị như kinh tế gia đình, sản xuất hàng hóa nhỏ.
Về cơ sở thực tiễn trên thế giới và ở nước ta trước thời kỳ đổi mới 1986. - © nước Nga vào những nim 1918 - 1919, xuất phat từ những đặc điểm của một nước lạc hậu, kinh tế tiểu nông chiếm đại bộ phận, kinh tế tư bản chưa phát triển. Lénin đã khẳng định rằng không thể chuyển trực tiếp nước Nga lên chủ nghĩa xã hội mà phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, nhằm khôi phục va phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Lênin viết: " Chúng ta hãy kể ra các thành phan kinh tế đó là: 1- Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tí nhiên, 2- Sản xuất hàng hóa nhỏ ( trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì ), 3- Chu nghĩa tư bản tư nhân 4- Chủ nghĩa tư bản nhà nước.
§- Chủ nghĩa xã hội [121; 363]. Sự tồn tại 5 thành phần kinh tế trong thời kì quá độ là một tất yếu khách quan. Ngăn can hoặc thủ tiêu các thành phần kinh tế ngoài thành phần xinh tế xã hội chủ nghĩa là không thể thực hiện được, thạm chí Lênin cho cing đó là "tự sát” là "đại đột” đối với dang nào muốn làm như vậy. Về lợi ¡ch của giai cấp tư sản cũng được Lênin xử lý một cách thoả đáng trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Dé bác lại những người cho rang trong chủ nghĩa xã hội sự quan tâm đến lợi ích của những nhà tư bản là ” ngược doi” Lénin đã khẳng định: " Người nào thu được nhiều kết quả nhất, dầu là bing con đường tu bản tu nhân. thì người đó giúp ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong toàn bộ nước Nga nhiều hơn những kẻ chỉ ngồi lo lắng đến sự thuần túy của chủ nghĩa cộng sản ” [120; 281]. Lénin khẳng định rằng do những sai lầm của chính sách kinh tế trước đây, để cứu văn nước Nga khỏi khủng hoảng. cần áp dụng chế độ tự do buon bán trao đổi hàng hóa.
Việc thực hiện chế độ tư do buôn bán trao dối hàng hóa, điều đó có thể din đến hiện tượng đầu cơ trục lợi, hiện tượng buôn bán v6 chính phủ, trốn tránh sự kiểm tra của Nhà nước vô sản, hiện tượng phá rối thị trường v. Lênin viết: " Trao đổi hàng hóa và tự do buôn bán nhất định sẽ làm xuất hiện những nhà tư bản và những quan hệ tư bản chủ nghĩa. Không việc gì phải sợ điều đó. Nhà nước công nhân có trong lay dảy đủ phương tiện để cho phép những quan hệ đó - những quan hệ hiện đang có ích và cần thiết trong hoàn cảnh sản xuất nhỏ - phát triển có chừng mực nhất định và để kiểm soát những quan hệ đó ” [120; 331].
Như vậy, chính sách đúng đắn nhất nhằm nâng cao đời sống nhân dân và phát triển lực lượng sản xuất chỉ có thể JA chính sách thúc đẩy sự phát triển của các thành phan kinh tế. 14 - Đối với Việt Nam, nền kinh tế tính từ năm 1954 đến nay, có thể tam mời chia làm hai giai đoạn, lấy năm 1986 - năm mà Dang và Nhà nước ta choi xuOng chủ trương đổi mới nền kinh tế đất nước làm mốc. Thời kỳ trước năm 1986, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tập trung, quan TIÊU, bao cấp với hai thành phần kinh tế chủ yếu, đó là kinh tế quốc doanh và kinh tế tap thể. Khu vực kinh tế tư nhân không những không được thừa nhận, mà còn cho là đối tượng cần phải cải tạo.
Vì chỉ có hai thành phần kinh tế, nên kinh tế Việt Nam giai đoạn này không phải là nền kinh tế hàng hóa với sự đa dạng của các thành phần kinh tế, mà là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, không có cạnh tranh, mà chỉ có sự độc quyền của Nhà nước trong mọi lĩnh vực. Hiến pháp năm 1959 nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quy định: ˆ Ở nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá đọ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã là hình thức sở hữu của tập thể của nhân dân lao động, hình thức của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tu sản dân tộc ” [73:243]» Do hoàn cảnh lịch sử trong thời kỳ này, kinh tế tư nhân không phát triển.