Tổng quan luận án
Luận án phó tiến sĩ khoa học luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Liêu thực hiện năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PTS. Nguyễn Cửu Việt và GS. PTS. Nguyễn Đăng Dung. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Nhà nước, mã số 505.05.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo trình bày của tác giả, chính sách ưu đãi người có công là vấn đề đạo lý, truyền thống, đồng thời mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng, kinh tế và xã hội sâu sắc. Sau các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng triệu người thuộc diện điều chỉnh của chính sách ưu đãi bao gồm lão thành cách mạng, thương binh, bệnh binh, liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước chuyển đổi sang cơ chế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo và thay đổi định hướng giá trị làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn xã hội.
Hệ thống quy phạm pháp luật ưu đãi người có công qua nhiều thời kỳ mang tính chắp vá, tản mạn, đan xen với các ngành luật khác và bộc lộ bất hợp lý. Tại thời điểm nghiên cứu, Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh toàn diện, đồng bộ dựa trên cơ sở khoa học pháp lý chặt chẽ. Các công trình trước đó mới dừng lại ở bài báo, tạp chí chuyên ngành hoặc nghiên cứu chính sách kinh tế - xã hội (như đề tài KX 04-05-04), thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ luật học để xây dựng luật thực định.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Trên cơ sở phân tích các quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng ở nước ta, bước đầu xây dựng một cách có hệ thống lý luận về pháp luật ưu đãi người có công, xác lập các căn cứ khoa học cho việc xây dựng, ban hành và áp dụng các quy phạm pháp luật ưu đãi người có công với nước ở Việt Nam.
- Phân tích, tổng kết thực tiễn việc thực hiện pháp luật ưu đãi người có công và thực trạng đời sống của người có công; từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật ưu đãi người có công; xác định và hoàn thiện các quy phạm pháp luật ưu đãi người có công.
- Phạm vi nghiên cứu: Do khái niệm người có công với nước rất rộng và là một phạm trù lịch sử, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi đối với người có công trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến thời điểm nghiên cứu (năm 1996).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại tình hình nghiên cứu liên quan đến chính sách và pháp luật ưu đãi người có công trong và ngoài nước:
- Tài liệu trong nước: Nghiên cứu về ưu đãi người có công chủ yếu dừng lại ở các bài viết chuyên ngành, báo cáo tổng kết hẹp của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Đề tài khoa học cấp nhà nước mã số KX 04-05-04 mới chỉ tiếp cận dưới góc độ đổi mới chính sách ưu đãi, chưa đi sâu vào khía cạnh khoa học pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Các sách chuyên khảo về hệ thống quy phạm pháp luật ưu đãi người có công hầu như chưa có.
- Tài liệu và pháp luật nước ngoài: Tác giả khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm xã hội và bảo trợ xã hội tại một số quốc gia: Luật Bảo trợ xã hội của Liên Xô cũ; Luật Bảo trợ người tàn tật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; các chế độ bảo đảm xã hội của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ; chính sách đối với thương phế binh trong Luật Lao động Pháp; chính sách hỗ trợ cựu binh tại I-rắc sau chiến tranh Vùng Vịnh; cùng các quy định về thương binh, tử sĩ của chế độ Sài Gòn cũ.
Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án là công trình luật học chuyên khảo bước đầu hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và thực tiễn thi hành pháp luật ưu đãi người có công tại Việt Nam, khắc phục sự hẫng hụt về lý luận để phục vụ yêu cầu thể chế hóa đường lối của Đảng thành luật thực định.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Bản chất pháp luật: Dựa trên lý thuyết pháp lý thực định và lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp luật, coi pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành nhằm thể chế hóa ý chí, chính sách của giai cấp cầm quyền và duy trì trật tự xã hội.
- Mối quan hệ liên ngành: Luận án định vị pháp luật ưu đãi người có công là một lĩnh vực mang tính liên ngành:
- Với Luật Hành chính: Có chung phương pháp điều chỉnh mệnh lệnh quyền uy (quyền lực - phục tùng) trong hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước.
- Với Pháp luật Bảo đảm xã hội: Là một bộ phận cấu thành (bên cạnh bảo hiểm xã hội và cứu trợ xã hội), nhưng mang tính chất đền đáp nghĩa vụ công quyền đặc thù chứ không đơn thuần là tương trợ khó khăn.
- Với Luật Lao động: Giao thoa tại các chế định tạo việc làm, tiếp nhận chỉ tiêu lao động, học nghề và trợ cấp suy giảm khả năng lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và lịch sử:
- Phương pháp duy vật lịch sử: Đánh giá sự phát triển của chính sách và pháp luật ưu đãi qua từng hình thái kinh tế - xã hội và giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp phân tích và so sánh: Phân tích quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam và so sánh đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Xem xét hệ thống văn bản pháp luật ưu đãi người có công trong mối liên hệ tổng thể với hệ thống pháp luật quốc gia.
- Phương pháp điều tra xã hội học và thực chứng: Khảo sát, đánh giá số liệu thực tế về đời sống, việc thực hiện chế độ trợ cấp cho các đối tượng người có công.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu của luận án dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định từ thời phong kiến đến năm 1995:
- Các sắc lệnh, nghị định thời kỳ 1945 - 1954 (24 văn bản).
- Các văn bản pháp quy thời kỳ 1954 - 1975 (184 văn bản).
- Các văn bản pháp luật thời kỳ 1975 - 1985 (523 văn bản).
- Các văn bản pháp luật thời kỳ 1985 - 1995 (741 văn bản).
- Hiến pháp năm 1992 (Điều 67), Pháp lệnh Ưu đãi người có công năm 1994, Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" năm 1994, Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995.
- Số liệu thống kê thực tế về thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, việc quy tập hài cốt liệt sĩ (trên 60 vạn hài cốt tại gần 3.000 nghĩa trang, 479 bia ghi tên tại 159 huyện).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái niệm pháp luật ưu đãi người có công. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam
Chương 1 gồm hai phần lớn (Mục 1.1 và Mục 1.2), tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và tiến trình lập pháp trong lịch sử:
1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành
- Định nghĩa người có công:
- Theo nghĩa rộng: Là mọi cá nhân không phân biệt thành phần, tôn giáo, dân tộc, giới tính, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng hoặc hy sinh cho sự nghiệp của dân tộc, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
- Theo nghĩa hẹp (phạm vi luận án): Là người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, hy sinh tính mạng hoặc một phần thân thể, có thành tích cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
- Phân loại người có công theo Pháp lệnh năm 1994 và Nghị định 28/CP: Gồm 8 nhóm chính:
- Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (tham gia trước 31/12/1944 hoặc đứng đầu đoàn thể quần chúng cấp xã/thoát ly từ 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa).
- Liệt sĩ.
- Thân nhân liệt sĩ (vợ/chồng hợp pháp, con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú được thừa nhận, cha mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng tối thiểu 10 năm trước 16 tuổi hoặc 5 năm trong điều kiện đặc biệt).
- Thương binh (quân nhân, công an bị thương mất sức lao động từ 21% trở lên khi chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc dũng cảm làm nhiệm vụ nguy hiểm).
- Bệnh binh (suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do hoạt động tại chiến trường, vùng gian khổ hoặc hậu quả chiến tranh).
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lao động.
- Người hoạt động kháng chiến được tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến.
- Người hoạt động cách mạng/kháng chiến bị địch bắt tù đày không khai báo, người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng (được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công", Bằng "Có công với nước" hoặc Huân chương).
- Các chế định cơ bản:
- Chế định bảo đảm việc làm: Bố trí công việc phù hợp với thương tật, sức khỏe nhằm tái hòa nhập cộng đồng.
- Chế định chăm sóc sức khỏe và tinh thần: Hệ thống trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng, khu điều dưỡng luân phiên và chính sách văn hóa tinh thần.
- Chế định trợ cấp: Trợ cấp mang tính đền đáp thực tế, không tượng trưng, bảo đảm mức sống của người có công không thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
2. Lịch sử hình thành và phát triển qua các giai đoạn
Luận án phân tích tiến trình lập pháp qua các thời kỳ:
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản / Dấu mốc pháp lý trọng tâm |
Đặc điểm và nội dung cốt lõi |
| Thời kỳ phong kiến (Lý, Trần, Lê, Nguyễn) |
Luật lệ triều đình, chế độ ruộng đất |
Chia 3 nhóm: vua chúa/hoàng tộc; công thần/quan lại; binh lính. Áp dụng cấp quân điền, tự điền, lộc điền; tiền tuất tử sĩ (năm 1835 triều Nguyễn chi kinh phí đưa 2.431 hài cốt tử sĩ về quê); phong thần, lập miếu thờ. |
| Giai đoạn 1945 - 1954 |
Sắc lệnh 20/SL (16/02/1947), Sắc lệnh 242/SL (12/10/1948), NĐ 531/PB-NĐ (1949), NĐ 367/NĐ (1950) |
Ban hành 24 văn bản. Thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh. Đặt ra chế độ "lương hưu thương tật", "tiền tuất". Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào "đón thương binh về làng" (07/1951). |
| Giai đoạn 1954 - 1975 |
NĐ 980/TTg (27/07/1956) ban hành 2 Điều lệ ưu đãi; NĐ 14/CP (1962); NĐ 161/CP (30/10/1964) |
Ban hành 184 văn bản (giai đoạn 1954-1964 có 88 văn bản, trong đó 38 văn bản về trợ cấp). Nâng khởi điểm thương tật từ 5% lên 15% (1954), sau đó sửa thành 8 hạng thương tật với khởi điểm 21% (1964). Bổ sung thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, vận tải nhân dân; quy định chỉ tiêu tiếp nhận 5% biên chế thương binh tại các xí nghiệp (TT 51/TTg-NC năm 1965). |
| Giai đoạn 1975 - 1985 |
CT 223/CT-TW (1975), NĐ 08/NĐ-76 (1976), QĐ 208/CP (1977), QĐ 78/CP (1978), QĐ 301/CP (1980) |
Ban hành 523 văn bản. Thống nhất chính sách hai miền Nam - Bắc. Bổ sung bệnh binh, người giúp đỡ cách mạng. Cất bốc, quy tập trên 60 vạn hài cốt liệt sĩ vào gần 3.000 nghĩa trang; xây dựng 479 bia ghi tên tại 159 huyện. |
| Giai đoạn 1985 - 1995 |
NĐ 236/HĐBT (18/09/1985), Điều 67 Hiến pháp 1992, Pháp lệnh Ưu đãi người có công (1994), NĐ 28/CP (1995) |
Ban hành 741 văn bản. Điều chỉnh trợ cấp gắn với cải cách giá - lương - tiền. Pháp điển hóa ở cấp độ cao nhất thời bấy giờ bằng hai Pháp lệnh năm 1994, khẳng định trách nhiệm Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. |
Chương 2: Thực trạng pháp luật ưu đãi và đời sống người có công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật và điều kiện kinh tế của đối tượng thụ hưởng:
- Thực trạng hệ thống pháp luật (Mục 2.1): Số lượng văn bản ban hành lớn (hơn 700 văn bản trong 10 năm đổi mới) nhưng tính đồng bộ chưa cao, nhiều văn bản dưới luật mang tính chắp vá và giải quyết tình thế. Quy định về điều kiện xác nhận còn rườm rà, dẫn đến việc giải quyết chế độ ở một số địa phương còn chậm trễ hoặc phát sinh tiêu cực. Sự phối hợp giữa các ngành luật (Hành chính, Lao động, Tài chính) trong việc bảo đảm quyền lợi người có công chưa nhịp nhàng.
- Thực trạng đời sống người có công (Mục 2.2): Đa số người có công sinh sống tại nông thôn, sức khỏe suy giảm do thương tật, bệnh tật hoặc tuổi già, tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm tỷ trọng đáng kể. Mức trợ cấp dù đã qua nhiều lần điều chỉnh theo Nghị định 236/HĐBT nhưng vẫn chưa bù đắp được trượt giá thị trường. Khó khăn nổi cộm gồm: vấn đề việc làm cho thương binh còn khả năng lao động, nhà ở cho thân nhân liệt sĩ và việc chăm sóc y tế chuyên biệt cho thương bệnh binh nặng.
Chương 3: Vấn đề hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 3 đề xuất định hướng cải cách hệ thống pháp luật ưu đãi:
- Các quan điểm cơ bản (Mục 3.1):
- Thể chế hóa đầy đủ đường lối, chính sách xã hội của Đảng thành các quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung.
- Pháp luật ưu đãi phải phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp nguồn lực Nhà nước với phong trào toàn dân chăm sóc ("xã hội hóa").
- Bảo đảm nguyên tắc công bằng, công khai; mức sống của người có công phải được duy trì bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú.
- Phương hướng và giải pháp cụ thể (Mục 3.2):
- Hoàn thiện các chế định pháp luật: Nâng cao giá trị thực tế của trợ cấp; cải cách thủ tục hành chính trong giám định thương tật, xác nhận liệt sĩ; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, doanh nghiệp trong tuyển dụng lao động là thương binh, con liệt sĩ.
- Đề xuất lập pháp: Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật - "Luật Ưu đãi người có công ở Việt Nam" nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, thay thế hình thức Pháp lệnh, bảo đảm tính ổn định và hiệu lực pháp lý cao nhất.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng một cách có hệ thống khái niệm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và nguyên tắc của pháp luật ưu đãi người có công với tư cách là một lĩnh vực pháp luật liên ngành đặc thù tại Việt Nam.
- Luận giải cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chính sách ưu đãi người có công với chính sách bảo đảm xã hội, luật hành chính và luật lao động.
- Xác lập các căn cứ khoa học cho việc phân định tiêu chuẩn, điều kiện xác nhận từng nhóm đối tượng người có công (nghĩa rộng và nghĩa hẹp).
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Tổng kết toàn diện lịch sử lập pháp ưu đãi người có công qua 5 giai đoạn lịch sử (từ thời kỳ phong kiến đến năm 1995), thống kê số lượng văn bản pháp quy qua từng thời kỳ.
- Phân tích thực trạng bất cập của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và những khó khăn trong đời sống của đối tượng thụ hưởng trong thời kỳ đầu chuyển đổi kinh tế thị trường.
- Đặt nền móng khoa học và đề xuất phương hướng xây dựng dự án "Luật Ưu đãi người có công ở Việt Nam" nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở đối tượng người có công trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng (theo nghĩa hẹp). Các nhóm đối tượng có cống hiến xuất sắc trong thời bình thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật chưa được đưa vào phạm vi khảo sát chuyên sâu của công trình.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ sở pháp lý để điều chỉnh chính sách ưu đãi đối với người có công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ hòa bình, đồng thời tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật lập pháp khi nâng cấp Pháp lệnh lên thành Luật.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ các cơ quan như Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật ưu đãi và xây dựng các văn bản luật chuyên ngành.
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Luật Nhà nước, Luật Hành chính, Luật An sinh xã hội và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "người có công" được luận án xác định theo những nghĩa nào?
Luận án phân biệt hai cấp độ:
- Theo nghĩa rộng: Là mọi người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, giới tính, tuổi tác, tự nguyện cống hiến sức lực, trí tuệ hoặc hy sinh vì lợi ích dân tộc, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
- Theo nghĩa hẹp (phạm vi của luận án): Là những người có cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được công nhận theo quy định pháp luật.
2. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật ưu đãi người có công mang đặc điểm gì?
Phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh quyền uy (quyền lực - phục tùng), thể hiện ý chí và trách nhiệm của Nhà nước trong việc "đền ơn đáp nghĩa". Ngoài ra, trong một số quan hệ xã hội hóa (như phong trào xây dựng nhà tình nghĩa của tổ chức, đoàn thể), pháp luật có sử dụng phương pháp thỏa thuận, tự nguyện.
3. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật ưu đãi người có công ban hành qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1945 đến 1995 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong luận án:
- Giai đoạn 1945 - 1954: 24 văn bản.
- Giai đoạn 1954 - 1975: 184 văn bản.
- Giai đoạn 1975 - 1985: 523 văn bản.
- Giai đoạn 1985 - 1995: 741 văn bản.
4. Pháp luật ưu đãi người có công gồm những chế định cơ bản nào?
Luận án chỉ ra ba nhóm chế định pháp luật nòng cốt:
- Chế định bảo đảm việc làm cho người có công.
- Chế định chăm sóc sức khỏe và bảo đảm đời sống tinh thần.
- Chế định trợ cấp (bao gồm trợ cấp hàng tháng và trợ cấp một lần).
5. Đề xuất pháp lý mang tính bao quát nhất của luận án ở Chương 3 là gì?
Đề xuất nâng cao hiệu lực pháp lý bằng việc nghiên cứu, soạn thảo và ban hành "Luật Ưu đãi người có công ở Việt Nam", đưa các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ưu đãi người có công từ phạm vi điều chỉnh của văn bản dưới luật (Pháp lệnh, Nghị định) thành một đạo luật thống nhất của Quốc hội.
Kết luận
Luận án phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Liêu là công trình nghiên cứu hệ thống về mặt pháp lý đối với chính sách ưu đãi người có công tại Việt Nam tính đến năm 1996. Tác giả đã làm rõ bản chất lý luận liên ngành, tái hiện quá trình phát triển quy phạm qua 5 giai đoạn lịch sử và chỉ ra những hạn chế thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế. Các luận điểm, số liệu lịch sử và đề xuất xây dựng "Luật Ưu đãi người có công" trong luận án mang giá trị khoa học thực tiễn đối với công tác lập pháp và an sinh xã hội tại Việt Nam.