Tổng quan về luận án
Bối cảnh khoa học của luận án tiến sĩ luật học "Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương" (Chuyên ngành: Luật Nhà nước, Mã số: 5.01.05) do NCS. Trương Đắc Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Hoàng Văn Hảo (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2002) gắn liền với giai đoạn bản lề của công cuộc cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Tại thời điểm chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý nhà nước nổi lên như một đòi hỏi tất yếu khách quan. Luận án đặt nền móng tiên phong khi tiếp cận chính quyền địa phương không đơn thuần dưới góc độ cơ cấu tổ chức bộ máy, mà định vị chính quyền địa phương là trung tâm của cơ chế tổ chức thực hiện và bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật trên thực tế.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định rõ: Trước năm 2002, nền khoa học pháp lý Việt Nam chủ yếu tiếp cận chính quyền địa phương dưới góc độ mô tả cơ cấu định chế theo luật định hoặc nghiên cứu phân tán ở từng phân hệ riêng lẻ (như giáo dục pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, kỹ thuật soạn thảo văn bản). Chưa có bất kỳ công trình chuyên khảo cấp tiến sĩ nào giải quyết toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa vị trí, thẩm quyền của chính quyền địa phương với 4 hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành, sử dụng, áp dụng pháp luật) và cơ chế bảo đảm pháp chế ở cấp cơ sở.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của đề tài được xác lập:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất pháp lý và vị trí của chính quyền địa phương trong bộ máy nhà nước đơn nhất quy định thẩm quyền và phương thức bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), văn bản cá biệt, giải quyết khiếu nại - tố cáo và kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp đang bộc lộ những bất cập, xung đột pháp lý nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những giải pháp đột phá nào về thể chế, cơ cấu tổ chức và phương thức vận hành nhằm nâng cao hiệu lực bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật của chính quyền địa phương trong tiến trình cải cách hành chính?
- Giả thuyết khoa học (H1): Vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật mang tính trực tiếp, cụ thể, thường xuyên và toàn diện nhất; trong đó, các biện pháp thuyết phục và hoạt động mang ý nghĩa tích cực (chấp hành - điều hành) giữ vai trò chủ đạo, quyết định hiệu lực của hệ thống pháp luật quốc gia.
Khung lý thuyết của công trình tích hợp học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, lý thuyết pháp chế XHCN, nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ, cùng lý thuyết quản trị công và phân cấp phân quyền (decentralization / deconcentration).
Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn diện hệ thống chính quyền địa phương 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) trên phạm vi cả nước từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2002, tập trung phân tích thực chứng sâu giai đoạn thi hành Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994. Ý nghĩa của luận án thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và xây dựng Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu nghiên cứu pháp lý liên quan đến đề tài cho thấy 3 dòng học thuật chính:
- Dòng nghiên cứu lý luận chung về pháp chế và ý thức pháp luật: Tiêu biểu với công trình "Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới" (1997) của PGS.TSKH. Đào Trí Úc và luận án tiến sĩ "Ý thức pháp luật XHCN và giáo dục pháp luật cho nhân dân lao động - thực tiễn ở Việt Nam" (Mạc-tư-khoa, 1977) của tác giả Nguyễn Đình Lộc. Nhóm nghiên cứu này tập trung vào các nguyên lý vĩ mô của pháp chế XHCN, cơ chế kiểm tra - giám sát việc tuân theo Hiến pháp và cấu trúc ý thức pháp luật, nhưng chưa đi sâu vào cơ chế vận hành chuyên biệt của các cấp chính quyền địa phương.
- Dòng nghiên cứu định chế tổ chức HĐND và UBND: Gồm các chuyên khảo kinh điển như "Nghiên cứu Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp" (1963) của Phan Mạnh Hân; "Về Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân" (1984) của Vũ Như Giới; "Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước" (1988) của Nguyễn Đăng Dung; cùng các bài viết của GS.TS. Hoàng Văn Hảo, TS. Phạm Hồng Thái, TS. Bùi Xuân Đức. Dòng tài liệu này chủ yếu phân tích thiết chế bộ máy, phân định thẩm quyền theo luật định dưới góc độ tĩnh, chưa làm nổi bật động thái thực thi công quyền và bảo đảm pháp chế.
- Dòng nghiên cứu nghiệp vụ lập quy và quản lý hành chính địa phương: Điển hình là luận án của Nguyễn Cửu Việt "Văn bản của các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam" (1986); đề tài nghiên cứu của Sở Tư pháp Hà Nội (1995); dự án VIE-98-001 của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2000). Các công trình này phân tích sâu kỹ thuật lập quy và hiểu biết pháp luật nhưng mang tính kỹ thuật hành chính đơn lẻ.
Điểm tranh luận học thuật gay gắt thời kỳ này tập trung vào hai vấn đề:
- Thứ nhất, thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của chính quyền cấp huyện và cấp xã: Nhóm quan điểm thứ nhất (ủng hộ tinh gọn) cho rằng chỉ nên trao thẩm quyền ban hành văn bản QPPL cho cấp tỉnh (hoặc cùng lắm là cấp huyện), loại bỏ cấp xã để tránh hiện tượng sao chép, văn bản tùy tiện, vi hiến, vi pháp. Ngược lại, nhóm quan điểm thứ hai (bảo vệ quyền tự chủ cơ sở) và tác giả luận án khẳng định nguyên tắc phân quyền đòi hỏi cả 3 cấp HĐND và UBND đều phải có thẩm quyền lập quy ở phạm vi quy chế nội bộ, biện pháp phối hợp và cụ thể hóa văn bản cấp trên, vấn đề cốt lõi là kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp chứ không phải tước bỏ thẩm quyền.
- Thứ hai, tính pháp lý của hình thức văn bản "Chỉ thị" của UBND: Có sự nhầm lẫn giữa việc dùng Chỉ thị để điều hành nội bộ với việc đặt ra các quy phạm pháp luật áp dụng cho xã hội (như Chỉ thị số 406/TTg năm 1994 về cấm pháo hay Chỉ thị số 24/CT-UB của UBND TP. Hồ Chí Minh năm 1994 về đội mũ bảo hiểm).
So sánh với các nghiên cứu quốc tế:
- Khác với mô hình Tự quản địa phương (Local Self-Government / Autonomie locale) tại Pháp (theo Đạo luật Phân quyền Defferre 1982) hay Hoa Kỳ (theo nguyên tắc Home Rule / Dillon's Rule) – nơi chính quyền địa phương là pháp nhân công quyền độc lập, các văn bản của Hội đồng dân cử chỉ mang tính quy chế/điều lệ địa phương và chịu sự giám sát tư pháp nghiêm ngặt (như Tòa án Hành chính tại Pháp);
- Chính quyền địa phương tại Việt Nam được luận án định vị là bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Văn bản QPPL của HĐND và UBND mang giá trị quyền lực nhà nước, là bộ phận cấu thành bắt buộc thi hành đối với mọi chủ thể trên địa bàn, bao gồm cả các cơ quan tư pháp và cơ quan trung ương đóng tại địa phương.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án phát triển và làm sâu sắc thêm học thuyết pháp chế XHCN và lý thuyết quản lý nhà nước thông qua việc xác lập luận điểm: Hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của chính quyền địa phương mang tính toàn diện, trực tiếp, thường xuyên và cụ thể nhất so với bất kỳ thiết chế nào trong bộ máy nhà nước.
Mô hình lý thuyết của luận án phân lập rõ ràng 4 hình thức thực hiện pháp luật mà chính quyền địa phương tác động:
- Tuân thủ pháp luật: Tự kiềm chế, không thực hiện hành vi pháp luật cấm;
- Chấp hành pháp luật: Thực hiện nghĩa vụ pháp lý tích cực mà pháp luật đòi hỏi;
- Sử dụng pháp luật: Tạo môi trường, bảo đảm điều kiện để công dân và tổ chức thực hiện các quyền chủ thể;
- Áp dụng pháp luật: Nhân danh quyền lực nhà nước ban hành các quyết định cá biệt nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể.
Luận án chứng minh một chuyển dịch nhận thức quan trọng (paradigm shift): Bảo đảm pháp chế không đồng nhất với cưỡng chế, trừng phạt mang tính thụ động hay xử lý hậu quả của cơ quan tư pháp. Ngược lại, biện pháp thuyết phục, giáo dục và các hoạt động chấp hành - điều hành mang ý nghĩa tích cực của cơ quan hành chính nhà nước phải được xác định là phương thức giữ vai trò chủ yếu và trước hết. Tác giả dẫn chứng tư tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị cán bộ tư pháp năm 1949: "Toà án xét xử đúng pháp luật là tốt, nhưng nếu không phải xét xử (tức là không có tranh chấp, không có vi phạm pháp luật, không có tội phạm xảy ra) thì càng tốt hơn".
CƠ CHẾ BẢO ĐẢM THI HÀNH PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 4 nhóm thẩm quyền chức năng cấu thành chỉnh thể cơ chế bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương:
$$\text{Cơ chế bảo đảm pháp luật} = f(\text{Tổ chức & Giám sát}, \text{Giải quyết Khiếu nại - Tố cáo}, \text{Hoạt động Lập pháp/Lập quy}, \text{Phổ biến GDPL})$$
- Nhóm 1: Thẩm quyền tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát: HĐND thực hiện quyền giám sát tối cao tại địa phương thông qua chất vấn, xem xét báo cáo công tác của UBND, TAND, VKSND cùng cấp; UBND tổ chức thực hiện, kiểm tra hành chính và áp dụng các biện pháp chế tài ngăn chặn vi phạm.
- Nhóm 2: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân: Thiết chế bảo vệ quyền công dân trực tiếp, kênh tiếp nhận thông tin phản hồi từ "tai mắt của nhân dân" để điều chỉnh quyết định quản lý và xử lý kỷ luật cán bộ vi phạm.
- Nhóm 3: Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật: Phân định rạch ròi giữa văn bản QPPL (Nghị quyết của HĐND, Quyết định/Chỉ thị của UBND) với văn bản cá biệt áp dụng pháp luật.
- Nhóm 4: Thẩm quyền phổ biến, giáo dục pháp luật: Định hình ý thức pháp luật và văn hóa tuân thủ của cán bộ, công chức và cộng đồng dân cư.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa chủ nghĩa thực chứng pháp lý (legal positivism - phân tích chuẩn tắc các văn bản quy phạm pháp luật) và phương pháp phân tích thể chế chức năng - thực chứng (institutional functionalism - đánh giá pháp luật qua vận hành thực tiễn). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) đánh giá sự phân định thẩm quyền giữa trung ương - địa phương và giữa 3 cấp chính quyền địa phương (tỉnh - huyện - xã), đồng thời so sánh sự khác biệt bản chất giữa địa bàn nông thôn và địa bàn đô thị.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý tư liệu pháp lý đạt độ tin cậy và chuẩn mực học thuật cao:
- Phương pháp lịch sử - pháp lý: Phân tích sự tiến hóa của thể chế chính quyền địa phương qua 4 giai đoạn lập hiến của Việt Nam (1945–1959, 1959–1980, 1980–1992, và 1992–2002).
- Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law): Đối chiếu mô hình tổ chức và quyền hạn của chính quyền địa phương Việt Nam với chế độ tự quản địa phương tại các nước tư bản (Pháp, Anh, Mỹ) và các nước XHCN trước đây (Liên Xô, Đông Âu).
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc kết hợp xã hội học pháp luật: Khảo sát các báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp, thanh tra, khiếu nại tố cáo và số liệu thống kê ban hành văn bản từ các bộ ngành trung ương (Thanh tra Nhà nước, Bộ Tư pháp, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ) và các địa phương trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Bình Định, Hà Tây, Hải Phòng).
SƠ ĐỒ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐA TẦNG CỦA LUẬN ÁN
Data và phân tích
Tác giả khai thác nguồn dữ liệu thống kê hành chính chính thức với những chỉ số thực chứng sắc bén:
- Dữ liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo toàn quốc: Theo Báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa X (ngày 15/11/2000), trong 2 năm 1999 và 2000 cả nước tiếp nhận và xử lý 307.334 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân (trong đó có 194.465 vụ khiếu nại và 28.139 vụ tố cáo thuộc thẩm quyền chính quyền các cấp). Các điểm nóng khiếu kiện đông người được định lượng chính xác: Hà Tây (69 lượt đoàn), Hà Nội (40 lượt đoàn), Hải Phòng (19 lượt đoàn), TP. Hồ Chí Minh (12 lượt đoàn).
- Dữ liệu khôi phục quyền lợi và xử lý cán bộ vi phạm (năm 1999): Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo đã trả lại quyền lợi chính đáng cho công dân gồm 13.196,81 ha đất và 13,98 tấn lúa; đồng thời áp dụng chế tài xử lý kỷ luật hành chính nghiêm khắc đối với 2.780 cán bộ, công chức vi phạm và chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự 120 cán bộ.
- Dữ liệu thực trạng cơ cấu ban hành văn bản pháp luật tại địa phương (1992–1996):
- Tại tỉnh Thanh Hóa: HĐND và UBND tỉnh ban hành tổng cộng 13.413 văn bản, trong đó chỉ có 436 văn bản QPPL (chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 3,2%), còn lại 96,8% là văn bản áp dụng mang tính cá biệt.
- Tại tỉnh Bình Định: 11 huyện, thành phố thuộc tỉnh ban hành tổng số 55.975 văn bản, trong đó văn bản QPPL chỉ chiếm 968 văn bản (tỷ lệ 1,73%).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
| STT |
Lĩnh vực phát hiện |
Bằng chứng thực chứng & Luận cứ lý thuyết |
So sánh & Đánh giá khoa học |
| 1 |
Mất cân đối cấu trúc văn bản pháp luật |
Tỷ lệ văn bản QPPL chỉ chiếm 1,73% – 3,2% (Bình Định, Thanh Hóa); 96,8% – 98,27% là văn bản cá biệt. |
Khẳng định bản chất chính quyền địa phương là cấp tổ chức thi hành; văn bản cá biệt là công cụ then chốt hiện thực hóa quyền, nghĩa vụ công dân. |
| 2 |
Xung đột thể thức và lạm quyền lập quy |
UBND các cấp tùy tiện sử dụng hình thức văn bản "Chỉ thị" và các văn bản hành chính thông thường (Công văn, Thông báo) để đặt ra quy phạm pháp luật hạn chế quyền công dân. |
Vi phạm nguyên tắc pháp chế; Chỉ thị vốn chỉ có giá trị điều hành cấp dưới trong quan hệ trực thuộc nội bộ. |
| 3 |
Điểm nóng khiếu kiện hành chính và sai phạm công quyền |
307.334 đơn thư khiếu nại, tố cáo trong 2 năm 1999–2000; sai phạm đất đai trầm trọng (phải trả lại 13.196,81 ha đất cho dân năm 1999). |
Quyết định hành chính sai trái của chính quyền cơ sở là nguồn cơn trực tiếp gây bức xúc xã hội và làm sai lệch hoạt động tư pháp. |
| 4 |
Bất cập trong cơ chế kiểm soát văn bản địa phương |
Viện Kiểm sát chỉ có quyền kháng nghị, không có quyền đình chỉ hay bãi bỏ; chỉ có Chủ tịch UBND cấp trên mới có quyền đình chỉ/bãi bỏ văn bản sai trái của cấp dưới. |
Thể hiện tính tối cao của cơ chế tự kiểm tra nội bộ hành chính kết hợp giám sát quyền lực của HĐND. |
Phát hiện mang tính phản trực giác (counter-intuitive) của luận án: Việc gia tăng số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo không hoàn toàn phản ánh sự suy thoái tiêu cực đơn thuần, mà ở góc độ quản trị, đó là kênh thông tin phản hồi xã hội tối quan trọng. Giải quyết khiếu nại đúng pháp luật chính là cơ chế tự điều chỉnh của nhà nước, giúp nhận diện các lỗ hổng chính sách, thu hồi tài sản bị thất thoát và thanh lọc bộ máy công quyền (minh chứng qua việc xử lý 2.780 cán bộ vi phạm năm 1999).
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Luận án đặt nền móng phân định 4 cấp độ thẩm quyền lập quy giữa trung ương và địa phương: (1) Vấn đề phổ biến quốc gia thuộc độc quyền trung ương; (2) Vấn đề trung ương quy định khung, địa phương quy định chi tiết; (3) Vấn đề thuần túy đặc thù địa phương; (4) Vấn đề thực tiễn địa phương sáng tạo sau đó nâng cấp thành luật quốc gia.
- Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình đánh giá hiệu lực pháp luật địa phương qua tỷ lệ văn bản cá biệt/quy phạm và mức độ giải tỏa khiếu nại của công dân.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Kiến nghị cải cách toàn diện cơ chế tiếp dân, phân định thẩm quyền giữa HĐND và UBND, xóa bỏ tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi" trong giải quyết khiếu nại lần đầu, và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã.
Limitations và Future Research
Tác giả thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn về phạm vi chuyên ngành: Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp), chưa đi sâu vào khía cạnh tố tụng tư pháp hoặc tài phán hành chính chuyên sâu của Luật Tố tụng Hành chính.
- Giới hạn bối cảnh thể chế chuyển đổi: Các phân tích dựa trên khung pháp lý của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, khi mô hình Tòa Hành chính (thành lập năm 1996) mới bước đầu vận hành, chưa có Luật Tố tụng Hành chính riêng biệt.
- Dữ liệu thực chứng cục bộ: Mặc dù số liệu cấp quốc gia và các tỉnh điển hình rất sâu sắc, nhưng dữ liệu thống kê tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn trong việc thu thập đồng bộ.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền đô thị độc lập với chính quyền nông thôn tại Việt Nam (đã được hiện thực hóa qua các Nghị quyết về chính quyền đô thị tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng sau này).
- Đánh giá cơ chế tài phán hiến pháp (bảo hiến) đối với các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành.
- Khảo sát tác động của chuyển đổi số và chính phủ điện tử đối với quy trình tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo và công khai hóa văn bản pháp luật địa phương.
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Luận án trở thành tài liệu tham khảo kinh điển tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Nhà nước và Pháp luật và các cơ sở đào tạo luật học trên cả nước; mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa luật hiến pháp, luật hành chính và khoa học quản trị công.
- Tác động lập pháp và chính sách: Các luận điểm và đề xuất của luận án đã trực tiếp đóng góp luận cứ khoa học cho:
- Việc ban hành Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003;
- Sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004;
- Các sửa đổi quan trọng của Luật Khiếu nại, Tố cáo (sửa đổi các năm 2004, 2005) và sau này tách thành Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011.
- Lợi ích xã hội: Đề cao nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước sự lạm quyền hành chính; thúc đẩy việc trả lại hàng chục ngàn hecta đất đai cho người dân và lập lại kỷ cương công quyền ở cơ sở.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật học, Hành chính công: Tiếp cận khung lý thuyết hoàn chỉnh về vị trí pháp lý của chính quyền địa phương và phương pháp nghiên cứu kết hợp chuẩn tắc với phân tích thực chứng.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận nhà nước và pháp luật: Nguồn tài liệu chuyên sâu để giảng dạy các học phần Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Xây dựng văn bản pháp luật và Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam.
- Đại biểu HĐND và cán bộ chuyên trách các ban của HĐND các cấp: Nắm vững công cụ pháp lý, quy trình giám sát thực hiện pháp luật và cơ chế chất vấn các cơ quan hành chính, tư pháp địa phương.
- Lãnh đạo UBND và đội ngũ công chức các cơ quan tư pháp, thanh tra: Chuẩn hóa quy trình ban hành văn bản quy phạm và văn bản cá biệt, ngăn ngừa vi hiến, vi pháp và nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng học thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng học thuyết pháp chế XHCN bằng việc chứng minh rằng: Chính quyền địa phương là thiết chế giữ vai trò trực tiếp, toàn diện và thường xuyên nhất trong việc bảo đảm pháp chế. Tác giả đã đảo ngược định kiến truyền thống (coi bảo vệ pháp luật là độc quyền của Tòa án và Viện kiểm sát) bằng cách xác lập luận điểm: Hoạt động chấp hành - điều hành mang tính tích cực và biện pháp thuyết phục của cơ quan hành chính mới là phương thức chủ yếu và trước hết để bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu trước đó?
Trả lời: So với công trình của Phan Mạnh Hân (1963) và Vũ Như Giới (1984) chỉ thuần túy bình luận văn bản luật, luận án của Trương Đắc Linh (2002) đã kết hợp phương pháp lịch sử - pháp lý (qua 4 bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) với phân tích định lượng thực chứng (dữ liệu 307.334 đơn thư khiếu nại, phân tích hơn 69.000 văn bản tại Thanh Hóa và Bình Định) và so sánh luật học quốc tế (với mô hình tự quản địa phương phương Tây).
3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất được hỗ trợ bởi dữ liệu?
Trả lời: Tỷ lệ ban hành văn bản QPPL tại cấp huyện và tỉnh chỉ chiếm từ 1,73% đến 3,2%, trong khi hơn 96% hoạt động ban hành văn bản của chính quyền địa phương là văn bản cá biệt. Điều này chứng minh rằng chức năng cốt lõi của chính quyền địa phương là áp dụng pháp luật giải quyết quyền/nghĩa vụ cụ thể của công dân, chứ không phải chức năng lập quy.
4. Luận án có cung cấp quy trình kiểm soát văn bản quy phạm pháp luật địa phương có thể nhân rộng không?
Trả lời: Có. Luận án thiết lập quy trình kiểm tra kép: (1) Kiểm soát chính trị - pháp lý từ HĐND (giám sát, bãi bỏ văn bản sai trái của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới); (2) Kiểm soát hành chính thứ bậc từ UBND cấp trên (đình chỉ, bãi bỏ văn bản sai của UBND cấp dưới).
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm được phác thảo thế nào?
Trả lời: Luận án định hình chương trình nghiên cứu tập trung vào: (1) Xây dựng Luật riêng biệt về ban hành văn bản của HĐND và UBND; (2) Phân định ranh giới tổ chức chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; (3) Thiết lập cơ chế kiểm soát tư pháp độc lập đối với các quyết định hành chính của UBND qua Tòa Hành chính.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trương Đắc Linh là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam giải quyết một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc vấn đề chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật. Những đóng góp nền tảng của công trình được đúc kết qua các điểm then chốt:
- Xác lập cơ sở lý luận vững chắc khẳng định chính quyền địa phương là cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước và công dân, nơi hiện thực hóa 4 hình thức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.
- Chứng minh vai trò chủ yếu và trước hết của các biện pháp mang tính tích cực (chấp hành - điều hành, thuyết phục, giáo dục) so với các biện pháp cưỡng chế, trừng phạt hậu kiểm.
- Nhận diện chính xác thực trạng mất cân đối cơ cấu văn bản (văn bản cá biệt chiếm trên 96%) và hiện tượng lạm dụng hình thức "Chỉ thị" để ban hành quy phạm trái thẩm quyền.
- Đánh giá thực chứng sâu sắc tình hình khiếu nại, tố cáo (với dữ liệu hơn 307.000 vụ việc), định vị giải quyết khiếu nại là cơ chế tự bảo vệ và hoàn thiện pháp chế của bộ máy công quyền.
- Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ về phân định thẩm quyền trung ương - địa phương, đổi mới phương thức giám sát của HĐND và chuẩn hóa quy trình lập quy của UBND.
- Đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp vào công cuộc cải cách hành chính quốc gia, tạo tiền đề lập pháp cho Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND năm 2004 và các đạo luật tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn đổi mới.