Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN, THỰC TIEN VE CHE ĐỊNH QUYEN CON NGƯỜI, QUYEN CONG DAN TRONG HIEN PHAP TREN THE GIOI 1. MOI QUAN HỆ GIỮA HIẾN PHAP VA NHÂN QUYEN 1. Khai niệm Hiến pháp và nhân quyền 1. Hiến pháp Có nhiều định nghĩa về Hiến pháp (constitution), tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, có thé hiểu Hiến pháp là: ".hệ thống quy định cơ bản về những nguyên tắc chính trị của quyền lực nhà nước và về việc thiết lập kiến trúc thượng tầng, quyền hạn và trách nhiệm của tô chức bộ máy nhà nước, sự bảo đảm các quyên va tự do co ban của con người va của công dan" [11].
nA Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với hiến pháp. Vị trí tối cao của hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc nhất chủ quyền của nhân dân và về nguyên tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, Quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý dân). Điều này khác với các đạo luật bình thường chỉ do Quốc hội (nghị viện) gồm những người đại điện do dân bầu và ủy quyền xây dựng [7, tr.
Lịch sử tồn tại và phát triển của hiến pháp gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Do nhu cầu chung sống, duy trì sự tồn tại và phát triển, con người cần có nhà nước. Các nhà nước cần được xây dựng dựa trên những quy tắc tô chức dé bảo đảm rằng bộ máy cơ quan của nó có thé quản lý được mọi hoạt động trong xã hội một cách hiệu quả. Vì vậy, ngay từ thời cô đại, ở phương Đông và cũng như phương Tây, đã có những văn bản đề cập đến những quy tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước mà đôi khi được coi như là 13 hiến pháp, ví dụ như ở Hy Lạp.
Tuy nhiên, phải đến thời kỳ Cách mạng Tư sản, do nhu cầu hoàn thiện các quy định về cách thức tô chức bộ máy nhà nước và phi nhận các quyền tự do của người dân dé hạn chế việc lạm dụng của chính quyền mới dẫn đến sự ra đời của hiến pháp theo cách hiểu hiện đại [7, tr. Trong thời đại ngày nay, sự hiện điện của Hiến pháp, thành văn hoặc không thành văn, là một tiêu chí không thể thiếu của chế độ dân chủ. Hiến pháp có tác dụng khăng định tính chính đáng của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xác định những phương thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước và ngăn chặn sự xâm phạm của chính quyền lực nhà nước đến các quyền và tự do của người dân. Hiến pháp, do đó, rat cần thiết cho sự phát triển của một đất nước cũng như mỗi người dân [7, tr.
Hiến pháp gắn liền với sự thành lập, tồn vong và thịnh suy của một quốc gia, đúng như Daniel Webster (1782-1852) từng nhận định: "Một quốc gia, một Hiến pháp, một vận mệnh". Vai trò quan trọng đó của Hiến pháp một phan lớn nhờ vào việc Hiến pháp xác lập nên khuôn khổ pháp lý dé tổ chức va kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ các quyền con người - điều mà các văn bản pháp luật khác không thé làm thay được. Chính vì vậy, nghiên cứu về Hiến pháp không thể không nghiên cứu về chế định về quyền trong nội dung của nó. Nhân quyền Nhân quyên (hay quyền con người - human rights) là thành tựu chung của cả loài người, là kết tỉnh của nền văn minh nhân loại.
Vẫn đề bảo vệ, thúc đây quyền con người trên phạm vi quốc tế được các nước trong phe Đồng Minh (Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Pháp.) nêu ra trong nhiều đề xuất ngay từ khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ 2 còn chưa kết thúc, sau đó được chính thức đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc năm 1948 (Charter of the United Nations). Day là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for 14 Human Rights - OHCHR) thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyên con người là những bảo đảm pháp lý toàn cẩu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tồn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tu do cơ ban cua con người [19].
Bên cạnh định nghĩa kê trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên [11]. Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu câu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [19].
Chủ nghĩa hiễn pháp Chủ nghĩa Hiến pháp - gọi theo Giáo sư Nguyễn Đăng Dung - hoặc chủ nghĩa hợp hiến theo Giáo sư Đào Trí Úc trong tiếng Anh đều viết là constitutionalism. Day là một khái niệm khởi xướng bởi John Locke, hiện có nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, nhận thức chung cho rằng, chủ nghĩa hién pháp dé cập và giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực của nhân dân và quyền lực của nhà nước bằng cách xác lập các nguyên tac: (i) Quyén lực (tuyét đối) thuộc về nhân dân; (11) Quyén lực nhà nước là do nhân dân trao cho, có giới hạn và phải chịu sự kiểm soát; (iii) Những hành động tùy tiện của nhà nước phải bị ngăn chặn. Bên cạnh đó, chủ nghĩa hiến pháp - như tên gọi của nó - nhấn mạnh vai trò của văn bản pháp luật quan trọng nhất của nhà nước có tên là Hiến pháp trong việc xác lập, quy định, từ đó nhằm bảo đảm thực hiện các nguyên tắc ké trên trong thực tế [11].
Tác động qua lại giữa Hiến pháp và nhân quyền 1. Tác động của quyền con người là nền tảng cho sự phát triển của Hiến pháp Quyền con người, quyền công dân là cốt lõi của mối quan hệ giữa các nhà nước và người dân ở một quốc gia, CÓ tầm quan trọng đặc biệt với sự ồn định, phát triển về chính trị, kinh tế, xã hội của các dân tộc, vì vậy, nó là một trong hai chế định cơ bản nhất (cùng với chế định về chế độ chính trị) trong mọi bản hiến pháp. Nói cách khác, quyền con người/quyền công dân và hiến pháp có mối quan hệ không thé tách rời. Về vấn dé này, cố Giáo sư Hoang Văn Hảo từng viết: Chính vai trò giá trị của quyền con người, quyền công dân mà trong tư duy chính trị của nhân loại, van đề quyền con người, quyền công dân trở thành một nội dung chính của lịch sử lập hiến.
Luật về các quyền của Anh sau Cách mạng 1689, Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, hiến pháp của tất cả các nước, dù ở chế độ xã hội nào (tư bản, xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển) đều có chế định quyền con người, quyền công dân. Đó là nội dung cơ bản nhất của mỗi hiến pháp, nội dung quan trọng đến mức nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân thi cũng không thé có bản thân hién pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu trong hiến pháp của nhiều nước [11]. Về mặt nguồn gốc, quyền con người gắn liền với tư tưởng về luật tự nhiên (còn được gọi là luật của tự nhiên - natural law/law of nature, nguyên gốc từ tiếng La-tinh: lex naturalis). Luật tự nhiên là phạm trù chung của cả triết học và luật học, chỉ những qui tắc trong tự nhiên ton tại độc lập với luật 16 lệ được đặt ra bởi một nhà nước.
Nội hàm cốt lõi của nó là một trật tự và hành xử đúng với tự nhiên mà mọi sự vật, hiện tượng và con người phải tuân theo như là một quy luật. Day là một trong những tư tưởng xa xưa và phổ quát nhất của loài người, vì nó tồn tại như là một nguyên lý chính yếu trong mọi nền văn hóa và mọi trường phái tư tưởng lớn, bao gồm các tôn giáo và học thuyết triết học nỗi tiếng ở cả phương Đông và phương Tây như Hindu giáo và Phật giáo ở An Độ, Thiên chúa giáo ở La Mã, Hồi giáo ở Trung Đông va Nho giáo ở Trung Quốc. Trong triết học Hy Lạp cô đại, Platon đồng nghĩa luật tự nhiên với sự "công bang" trong cách ứng xử của con người. Aristotle - học trò của ông - cho rằng trong tự nhiên đã có sẵn những quy luật, luật lệ và công lý mà con người phải tuân thủ khi hành xử cũng như khi xây dựng và thực thi pháp luật.
Học thuyết luật tự nhiên sau đó được tiếp tục phát triển bởi một loạt nhà tư tưởng cô va trung đại, bao gồm Thomas Aquinas, Francisco Suarez, Richard Hooker, Thomas Hobbes, Hugo Grotius, Samuel von Pufendorf, John Locke, Francis Hutcheson, Jean Jacques Burlamaqui, va Emmerich de Vattel, trong đó nổi bật nhất là Hugo Grotius va Thomas Hobbes. Tuy nhiên, luật tự nhiên không chỉ dừng lại ở những tu tưởng triết hoc. Những nguyên tắc của nó từ lâu đã được đề cập một cách hàm ý hay công khai trong các văn kiện pháp luật nổi tiếng của nhân loại về nhân quyền, bao gồm Bộ luật Hammurabi (1810 - 1750 TCN) ở Babylon; Đại Hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251) và Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration of Independence, 1776) của nước Mỹ; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nước Pháp. Những văn kiện này đều ghi nhận các quyền con người, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và góc độ khác nhau, như là những quyền tự nhiên.