Chương 1 NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. TỔNG QUAN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1. Nguồn gốc tƣ tƣởng của Nhà nƣớc pháp quyền 1. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có nguồn gốc từ xa xưa.
Xã hội loài người đã chuyển từ trạng thái không có Nhà nước, không cần đến Nhà nước sang chế độ có giai cấp, có sự đối kháng và thống trị giai cấp bằng quyền lực nhà nước thông qua công cụ pháp luật. Theo đó, nhờ vào sự thừa nhận và ủng hộ của quyền lực nhà nước, pháp luật trở thành sức mạnh có tính bắt buộc chung, còn quyền lực nhà nước được tổ chức công khai, có trật tự, có giới hạn và trở thành quyền lực công bằng. Dù được diễn đạt với những hình thức và khía cạnh khác nhau nhưng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại đã được phản ánh trong tư tưởng học thuyết chính trị - pháp lý của cả phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề trị nước, an dân bằng cách thức nào, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ nhạc.
Nho giáo do Khổng Tử sáng lập lúc đầu chủ trương “nhân trị”, “lễ trị” hoàn toàn nhưng về sau đã phải tìm kiếm đến những yếu tố thích hợp của tư 13 z tưởng pháp trị. “Lễ trị” của Khổng Tử có tác dụng rất sâu sắc và bao quát, vừa là sự cụ thể hoá, vừa là công cụ, biện pháp để thực hiện đức trị và “chính danh” nhằm tạo ra một trật tự trong các quan hệ gia đình và xã hội. Theo Mạnh Tử, vua vâng mệnh trời để trị dân, nhưng mệnh trời phải hợp với lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân. Tuân Tử đã kết hợp “lễ trị với luật” để trị nước.
Có thể coi đây là chiếc cầu nối giữa tư tưởng nhân - lễ trị của Khổng - Mạnh và tư tưởng pháp trị sau này. Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị lên đến đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc, “thời biến, pháp biến”. Nho giáo mà tiêu biểu là Khổng Tử cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật nhưng quan niệm và cách thức vận dụng pháp luật khác nhiều so với Hàn Phi Tử. Cùng là dùng hình luật để cai trị nhưng Pháp gia khác với Nho gia.
Pháp gia thì xem việc dùng hình phạt dù nặng hay nhẹ đều là việc hiển nhiên, còn Nho gia khi dùng đến hình phạt cho rằng đó là phương tiện mà không phải là mục đích. Như vậy, các nhà tư tưởng phương Đông ít bàn luận về Nhà nước, pháp luật hơn mà chủ yếu quan tâm đến đường lối, phương thức cai trị con người và xã hội. Tuy nhiên, cũng như các nhà triết học phương Tây, các nhà tư tưởng phương Đông đều coi trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Hàn Phi Tử cho rằng, ý muốn cá nhân của các bậc quân vương là cội nguồn của tình trạng vô pháp luật; luật pháp đối với người quý tộc và kẻ hèn mọn phải như nhau.
Đồng thời Nhà nước pháp quyền cũng không loại trừ đạo đức, 14 z thiếu đạo đức xã hội sẽ hỗn loạn. Tư tưởng này đã được kế thừa, phát triển qua nhiều thời đại và đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Ở phương Tây Tư tưởng Nhà nước pháp quyền ở phương Tây cổ đại chủ yếu gắn liền với sự phát triển của nền dân chủ Hy Lạp và La Mã, có phần sâu sắc hơn vì được dựa trên cơ sở tư duy triết học. Các nhà tư tưởng chú ý tới tính tối cao của đạo luật và sự tổ chức hợp lý của bộ máy nhà nước.
Họ cho rằng pháp luật là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con người và của thế giới xung quanh con người, pháp luật của Nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của luật tự nhiên2. Xôcrat (469-399 TCN) là người ủng hộ nguyên tắc pháp chế; cho rằng công lý ở trong sự tuân thủ pháp luật hiện hành, sự công minh và sự hợp pháp đều là một; nếu không tuân thủ pháp luật thì cũng không có Nhà nước và trật tự pháp luật; nếu các công dân của Nhà nước tuân thủ pháp luật thì Nhà nước đó sẽ vững mạnh và phồn vinh. Platon (427-374 TCN) nhìn thấy sự diệt vong của Nhà nước mà trong đó pháp luật không có sức mạnh và nằm ở dưới quyền lực của ai đó. Theo Platon, ở những nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là những nô lệ của pháp luật thì ở đó có sự cứu thoát của Nhà nước.
Platon đã đưa ra một định đề nổi tiếng như sau: cầm quyền bởi một con người - đó là chính quyền chuyên chế; bởi một bộ phận người tốt - đó là chính quyền quý tộc; bởi những công dân tự do thành thị - đó là dân chủ. Arixtot (384 - 322 TCN) - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại cho rằng pháp luật cần thống trị trên tất cả. Theo ông thì yếu tố cấu thành cơ bản 2 Hoàng Thị Kim Quế, Tư tưởng Đông, Tây về Nhà nước và pháp luật, những nhân tố nhà nước pháp quyền, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3 (3/2002) 15 z của phẩm chất chính trị trong luật pháp là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền; không thể có pháp luật nếu như việc cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực. Xixeron (106 - 44 TCN) nêu nguyên tắc tối cao của pháp luật trong đời sống nhà nước bằng quan niệm cho rằng Nhà nước là gì nếu không phải là trật tự chung.
Theo ông, pháp luật là cội nguồn tạo ra chế độ Nhà nước và Nhà nước là Nhà nước pháp quyền không phải vì Nhà nước tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cội nguồn, về bản chất, Nhà nước chính là pháp luật - pháp luật tự nhiên của nhân dân. Như vậy, tư tưởng Nhà nước pháp quyền thời cổ đại nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, đấu tranh xác lập và phát triển nền dân chủ. Theo các nhà triết học phương Tây, pháp luật không chỉ là công cụ cai trị của Nhà nước mà còn là phương thức điều chỉnh quan trọng nhất đối với các quan hệ xã hội, bản thân Nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật. Học thuyết về Nhà nước pháp quyền Tư tưởng của các nhà triết học, chính trị học và luật học cổ đại về Nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, phát triển của học thuyết về Nhà nước pháp quyền sau này.
Tuy nhiên, điều kiện khách quan quyết định sự hình thành học thuyết Nhà nước pháp quyền là do những đòi hỏi của cuộc cách mạng dân chủ tư sản - cuộc cách mạng giải phóng con người ra khỏi chế độ độc tài, tình trạng vô pháp luật, chuyên quyền của xã hội phong kiến, thiết lập nền dân chủ tư sản. Học thuyết Nhà nước pháp quyền được hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các học giả nổi tiếng thế giới như J.Canto… 16 z Nhìn chung, các nhà tư tưởng thời cách mạng tư sản quan niệm nội dung Nhà nước pháp quyền có những đặc điểm cơ bản sau: - Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất. Nhà nước bảo đảm cho các quyền tự do cơ bản của con người, bảo hộ cho con người trong trường hợp các quyền của họ bị vi phạm kể cả từ phía các cơ quan và nhân viên nhà nước.
Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân và Nhà nước có mối quan hệ qua lại về quyền và nghĩa vụ pháp lý; - Đề cao vai trò của pháp luật, pháp luật được coi như đại lượng làm thước đo chung để hướng dẫn và đánh giá hành vi con người; mọi quan hệ xã hội cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật; - Pháp luật giữ vị trí thống trị trong đời sống xã hội, trong đó đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật; - Quyền lực nhà nước được phân định rõ ràng theo ba chức năng cơ bản của Nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba chức năng đó giao cho ba cơ quan khác nhau, có vị trí độc lập và ngang nhau trong thế kìm chế và đối trọng để kiểm soát và hạn chế sự lạm dụng quyền lực; - Bảo đảm tính độc lập của cơ quan tư pháp trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật, không bị can thiệp từ phía các cơ quan và cá nhân khác. Các nhà triết học tư sản cũng cho rằng, trong mối tương quan giữa Nhà nước và pháp luật, Nhà nước phải đứng dưới pháp luật, tuân theo pháp luật mặc dù Nhà nước ban hành ra pháp luật bởi vì có một thứ pháp luật khách quan mà tinh thần của nó thì Nhà nước và pháp luật thực định do Nhà nước ban hành cần phải tuân thủ, đó là pháp luật tự nhiên. Pháp luật tự nhiên có trước Nhà nước, đứng trên mọi Nhà nước, được lý trí công nhận, giữ vai trò lãnh đạo cuộc sống và điều chỉnh hành vi của con người.
Do vậy, có thể nói 17 z học thuyết Nhà nước pháp quyền đã đứng trên thế giới quan triết học pháp quyền để xác định bản chất và chân lý của pháp luật. Khái niệm và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Trong quá trình nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, có ý kiến cho rằng, điều quan trọng nhất trong Nhà nước pháp quyền là nguyên tắc phân công rành mạch giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ý kiến khác cho rằng bản chất của Nhà nước pháp quyền nằm ở việc ghi nhận, đề cao và bảo vệ quyền con người. Cũng có ý kiến lại nhấn mạnh Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà trong đó, mọi chủ thể, kể cả Nhà nước đều tuân thủ nghiêm chỉnh, chịu phục tùng pháp luật - một pháp luật có tính pháp lý cao, phù hợp với lý trí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao nhất của xã hội, của con người.
Có thể nói, những nội dung trên đây đều là những tiêu chí quan trọng để xác định bản chất của Nhà nước pháp quyền.