Chương I NHÂN QUYEN VÀ ĐẤU TRANH CHONG LỢI DỤNG NHÂN QUYỀN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.I Nhan quyển và đặc điểm của sự phát triển nhân quyền trong lịch sử 1.1 Khái niệm nhân quyền (quyền con người) Mac dù có bề day phát triển cả về phương diện thực tiễn lẫn phương diện | luận nhưng khái niệm nhân quyền cho đến nay, càng phức tạp với các cách hiểu khá nhau không chỉ về sắc mầu tư tưởng mà cả về lãnh địa chính trị, quốc gia. Trong điề kiên mới của thé giới hiện đại, quyền con người đang là vấn dé nóng bỏng, không ch là vấn đề có tính thời sự chính trị, đấu tranh tư tưởng mà còn là đối tượng của nhiều môn khoa học như chính trị học, kinh tế học, triết học, luật học và nhiều khoa học x: hội nhân văn. Quyền con người không chỉ là một trong số những vấn đề cơ bản nhâ của loài người ở mọi thời kỳ lịch sử, mà còn là một vấn đề phức tạp, rộng lớn và hê sức nhạy cảm. Trong lịch sử loài người đã xuất hiện rất nhiều trường phái, quan niện khác nhau về nhân quyền, mâu thuẫn nhau, thậm chí trái ngược nhau, chính vì vas dan đến những thái độ, cách xử lý không giống nhau trong việc giải quyết vấn d: quyền con người.
Đi liền với âm mưu chính trị, vấn dé nhân quyền bị lợi dụng ở mỗ thời kỳ, mỗi quốc gia, mỗi khu vực cũng khác nhau. Chính vì vậy, muốn nghiên cứu “val frò củaš phản luật ty ‘ong cuộc đâu tranh chống lợi dụng nhân quyên bảo vệ ai ninh quốc gia Ở nước ta hiện nay",„trước tiên cần phải nhận thức đầy đủ về khái niện nhân quyền, làm cơ sở iy luận chờ việc xác định thực trạng tình hình hoạt động lợ dụng nhân quyền, bản chất của cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền. Nghiên cứu f tưởng của các nhà Mác-xít về quyển con người, với tư cách "c bộ phận" phản ánh “cái chỉnh thể” , chúng ta không thể tách rời một cách biệt lập vớ. toan bộ hệ thống hoc thuyết Mac.
Chinh những tư tưởng của Mác về con người l: những tư tưởng về quyền con người. Mục đích cuối cùng của học thuyết Mác là nhằm giải phóng toàn bộ những cá nhân con người ra khỏi tình trạng “bi tha hoá về nhdi | tính”, làm cho con người phát triển toàn điện về nhân cách và dat tới tự do đích thực Thông qua sự phân tích xã hội tư bản với phương thức bóc lột giá trị thang du, Mác đã chỉ ra được con đường giải phóng một cách khoa học và hiện thực. Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất "sinh với - xã hội", do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa "guyển tu nhiên" và “quyén vớ hoi". Cơ sở thống nhất giữa hai yếu tố đó, chúng ta có thể tìm thấy từ trong lý luận của Mác về quyền con người, con người là sản phẩm cao nhất của tiến trình vận động lich sử "một mat, là sản phẩm của tổ chức tự nhiên của anh ta, mặt khác là sản phẩm của những diéu kiện xung quanh trong suốt cuộc đời” [2, tr.
Trong mọi trường hợp con người luôn luôn là "động vát xd hội" [], tr. Từ đó, việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó trong quan hệ xã hội, bởi vì, "chỉ có trong cộng đồng[với những người khác thì môi} cá nhân mới có những phương tiện để phát triển toàn điện những năng khiếu của mình; chỉ có trong cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân" [3. Nhu vậy, Mác đã xuất phat từ quan niệm đúng dan và khoa học về con người (chủ thể của quyển) để có cách hiểu đúng về quyền con người. Con người là “con người - xã hội", do đó, quyền con người nằm ở tầng sâu của các quan hệ xã hội và hiển nhiên là mang bản chất xã hôi.
Theo Mác, quyền con người không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không phải chỉ mang tính tự nhiên, mà luôn gắn với từng trình độ và tiến bộ xã hội. Vì vậy, quyền con người trong lịch sử được bảo đảm và thực hiện tuỳ thuộc vào những phương thức sản xuất rất khác nhau. Đặc biệt là quyền con người chỉ được hình thành trong xã hội có sự vi phạm về quyền, gắn liền với sự ra đời và xuất hiện nhà nước, với xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Bản chất xã hội, bản chất giai cấp qui định nên bản chất của quyền con người.
Tuy nhiên, theo Mác, quyền con người còn mang tính nhân loại sâu sắc. Bởi vì, nó là cuộc au tranh của toàn thể nhân dân lao động chống ach ap a bức bóc lột, giành lại quyền tự do chân chính cho mình, là giá tri nhân văn cao quý mà xã hội loài người ở mọi thời đại đều hướng tới. Mác khẳng định, quyền con người phụ thuộc vào từng phương thức sản xuất nhất định, với :hế độ chính trị - xã hội, kinh tế, văn hoá nhất định "Quyển con người không bao giờ 'ó thể cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển vấn |hod của xã hội do chế độ kinh tế ló quyết định" [4, tr. Mác và Ang ghen phan tich khía cạnh cụ thể của quyền 0n người như quyền dân sự - chính trị, quyền kinh tế, xã hội, văn hoá và các quyền ơ bản đó nằm trong một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời.
Hai ông nhấn mạnh 04 bỏ chế độ bóc lột với tư cách là nguồn gốc sâu xa của sự vi phạm quyền, chứ hông phải xoá bỏ những gì thuộc về sở hữu của các cá nhân nói chung (sở hữu cá nhân). Trong tác phẩm "Tuyen ngôn Đảng cộng sản" Mác va Ang ghen đã khẳng định aa AY nghia cong sản không tước bo của ai cái quyển chiếm hữu những sản phẩm xã hói cả. Chit nghĩa cộng sản chỉ tước quyển dùng sự chiếm hữu dy để nô dịch lao động của người khác mà thôi” [5, tr. Lénin, người kế tục và phát triển học thuyết Mác, cũng khang định "giai cấp vô sản không thể tự giải phóng mình được nêu không thủ tiêu hết tất cả những điều kiện sinh sống không có nhân tính của xã hội hiện nay đang kết tính trong hoàn cảnh của bản thân nó" [7, tr.
Tư tưởng quyền con người của Lénin còn thể hiện trong hàng loạt các tác phẩm, chính sách đối nội và đối ngoại. Trong tác phẩm "sắc lệnh về hoà bình" Lênin đã nêu ra một kiểu quan hệ quốc tế mới, xây dựng trên cơ sở thiết lập một nền hoà bình giữa các dân tộc, thừa nhận quyền bình đẳng của các dân tộc, nền độc lập của các quốc gia. Quyển con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị tinh hoa của truyền thống dân tộc Việt Nam và nhân loại. Điều này được chứng minh qua những đi sản quý báu trong tư tưởng của Người về vấn dé quyền con người.
Qua đó, giúp chúng ta đi đến hình dung đầy đủ, chính xác về khái niệm quyền con người. Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liên với giải phóng các dân tộc bị áp bức. Ngay khi đi tìm đường cứu nước vấn đề này đã được đặt ra, Người tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người cộng sản, từ đó, Người rút ra: Muốn CỨU nước và giải phóng dân toc không có con dường nào khác là con đường cách mạng VÔ san nhằm đánh đồ đế quốc, phong kiến và tay sai, giành độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hôi và giải phóng con người, từ đó xác lập quyền con 1gười. Theo Người, quyền bình đẳng dân tộc là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền :On người, khi đất nước chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do thì chưa thể nói lến quyền con người.
Tư tưởng về độc lập tự do, được chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người tịnh trọng tuyên bố "Nước Việt Nam có uyễn được hưởng tự do và độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập" 3, tr. Trong Tuyên ngôn người đã dẫn "Tuyên ngôn độc lập của Mỹ" (1776) Cat cả mọi người sinh ra đều có quyên bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền tông ai có thể xâm phạm được; trong nhim 8 quyền ấy có quyền được sống, quyền tự ? va quyển mưu cẩu hạnh phúc"{§, tr. Người cũng trích "Tuyên ngôn nhân + 8 quyền và dẫn quyển của Pháp” (1789) “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình dang về quyển lø/"(8, tr.
Từ chỗ thừa nhận quyên con người như hiển nhiên, Người nâng quyền con người lên thành quyền dân tốc "Suy cho rộng ra câu ấy có nghĩa là tat cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình dang, dân tộc nào cũng có quyền song, quyền sung sướng và quyền tự do'[8, tr. Lý luận về quyền dân tộc được nâng lên trong quá trình đấu tranh với các nội dung cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nội dung đó được nhi nhận ở Hội nghị Giơnevơ (1954), Hội nghị Pari về Việt Nam (1973). Trong tư tưởng của Bác, pháp luật vì con người và thục hiện quyền cơ bản của con người.
Bác là người sáng lập ra nhà nước ta và là Người trực tiếp chi đạo việc. soạn thảo các Hiến pháp 1946 và 1959. Điều | Hiến pháp 1946 khẳng định "Tái cả quyển bính trong nước là của toàn thể nhân ddan Việt Nam, không phan biệt giống noi, gái trai, gidu nghèo, giai cấp, tôn giáo" [56, tr. Điều 4 Hiến pháp 1959: "Tát cả quyển lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân" {57, tr.
Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong việc xây dựng một nhà nước Việt Nam kiểu mới. Quyển con người được bảo đảm về phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và. Khi nói về khát vọng và mục đích của bản thân, Hồ Chí Minh đã viết "Tôi có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [9, tr. Ngày nay trong công cuộc đổi mới dat nước, hội nhập cộng đồng quốc tế và đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng nhân quyền, chúng ta cần tăng cường nghiên cứu, bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người.
Tư tưởng quyền con người thể hiện trong luật quốc tế.