Tổng quan luận án
Công trình "Vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay" là luận án Phó tiến sĩ Khoa học Luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Thiện, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Hoàng Văn Hảo. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước - Pháp quyền, mã số 50501, hoàn thành tại Hà Nội vào năm 1996.
Về tính cấp thiết của đề tài, tác giả chỉ rõ rằng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con người là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược phát triển con người đòi hỏi việc nghiên cứu, thực hiện, bảo vệ quyền con người cũng như đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền phải được xem xét như một bộ phận thuộc nhân tố con người, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển và ổn định xã hội. Trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, vấn đề quyền con người trở thành trọng điểm thu hút sự quan tâm của cộng đồng, Đảng, Nhà nước và giới khoa học. Đồng thời, đây cũng là vấn đề mang tính thời sự chính trị và đấu tranh tư tưởng gay gắt khi các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài nhân quyền để tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Hoạt động lợi dụng nhân quyền được xác định là nội dung xuyên suốt chiến lược "diễn biến hòa bình" và chính sách "ngoại giao nhân quyền" của chủ nghĩa đế quốc. Trong các nhân tố bảo đảm thực hiện và đấu tranh trên lĩnh vực này, pháp luật giữ vị trí trung tâm nhằm thể chế hóa quyền con người, quản lý xã hội, làm vũ khí đấu tranh và thực hiện cam kết quốc tế.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể: ở Việt Nam thời điểm bấy giờ, vấn đề thực hiện, bảo vệ nhân quyền và chống lợi dụng nhân quyền bằng pháp luật chưa được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống. Nhận thức về bản chất, vai trò của pháp luật trong lĩnh vực này còn phiến diện, chưa hình thành rõ nét hệ thống quan điểm và nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo công tác lập pháp; hệ thống pháp luật thực định còn thiếu nhiều luật, nhiều văn bản quy phạm cần bổ sung, sửa đổi, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu bảo vệ quyền công dân cũng như phục vụ công tác bảo vệ an ninh quốc gia.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ an ninh quốc gia từ góc độ luật học; trên cơ sở đó kiến nghị các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và hội nhập quốc tế.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là: Khái quát tình hình chung về nhân quyền và cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền.
- Hai là: Phân tích vị trí, vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng nhân quyền bảo vệ an ninh quốc gia.
- Ba là: Xây dựng hệ thống các quan điểm cơ bản về định hướng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là vai trò của pháp luật trong việc thực hiện, bảo vệ nhân quyền và đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài tập trung vào thực tiễn thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới (từ sau năm 1986 đến năm 1996), đặt trong mối liên hệ với an ninh quốc gia và bối cảnh quốc tế. Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp quyền, tác giả giới hạn việc nghiên cứu ở việc đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản về mặt pháp luật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến quyền con người và pháp luật. Trên bình diện quốc tế, vấn đề quyền con người được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học, đặc biệt là luật học. Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây từng phối hợp nghiên cứu đề tài chung "Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền"; trong khuôn khổ hợp tác này, năm 1989 tại Học viện Nguyễn Ái Quốc đã diễn ra hai cuộc hội thảo khoa học và đến năm 1990 công trình chuyên khảo "Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền" được xuất bản.
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội VI của Đảng, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và bài viết học thuật đã xuất hiện trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành:
- Tập chuyên khảo "Quyền con người, quyền công dân" gồm 2 tập do Trung tâm nghiên cứu quyền con người thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KX07-16.
- Cuốn sách chuyên khảo "Quyền con người trong thế giới hiện đại" do Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo đồng chủ biên, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản năm 1995.
- Bài viết "Để bảo đảm quyền con người cần đổi mới nhận thức con người" của tác giả Phạm Ngọc Quang đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/1989.
- Bài viết "Khoa học pháp lý Việt Nam trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới" của tác giả Đào Trí Úc đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/1989.
- Bài viết "Vấn đề quyền con người và sự thực hiện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Ngọc Minh đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/1989.
- Bài viết "Quan niệm về quyền con người trong đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta" của tác giả Trần Ngọc Đường đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/1991.
- Bài viết "Quyền con người..." của các tác giả Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5/1993.
- Bài viết "Vấn đề nhân quyền và bảo đảm nhân quyền trong sự nghiệp đổi mới đất nước" của tác giả Chu Hồng Thanh đăng trên Tạp chí Công an nhân dân số 9/1994.
- Báo cáo nghiên cứu "Chống lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực điều tra, xử lý một số tội xâm phạm an ninh quốc gia trong tình hình mới - thực trạng và giải pháp" do Cục An ninh điều tra công bố năm 1996.
Luận án ghi nhận các công trình nói trên đã nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau về quyền con người và quyền công dân, đóng góp quan trọng vào sự phát triển lý luận pháp lý ở Việt Nam. Tuy nhiên, luận án chỉ ra khoảng trống: đến thời điểm năm 1996, ở trong nước vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền để bảo vệ an ninh quốc gia. Luận án định vị mình là công trình đầu tiên giải quyết trực diện mối quan hệ biện chứng giữa ba yếu tố: pháp luật, bảo vệ nhân quyền và an ninh quốc gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án được xây dựng dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền dân tộc cơ bản và chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
- Quan điểm Mác - Lênin: Luận án tiếp thu luận điểm coi con người là một thực thể sinh học - xã hội thống nhất; quyền con người là sự kết hợp biện chứng giữa quyền tự nhiên và quyền xã hội, phản ánh phương thức sản xuất và chế độ kinh tế - xã hội nhất định ("Quyền con người không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định"). Đồng thời, tác giả vận dụng các văn kiện kinh điển như "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen) và "Sắc lệnh về hòa bình" (V.I. Lênin) để khẳng định tính nhân văn, tính giai cấp và quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án phân tích sự gắn kết hữu cơ giữa quyền con người và quyền độc lập dân tộc. Tác giả dẫn chứng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp, từ đó nâng quyền con người cá nhân lên thành quyền tự quyết, độc lập của mọi dân tộc. Luận án cũng trích dẫn Điều 1 Hiến pháp năm 1946 và Điều 4 Hiến pháp năm 1959 để chứng minh nguyên tắc pháp luật vì con người và quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Pháp luật quốc tế: Luận án tham chiếu hệ thống các văn bản quốc tế gồm Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 cùng các nghị định thư bổ sung cấu thành "Bộ luật Nhân quyền Quốc tế" (International Bill of Human Rights).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp lôgíc. Các phương pháp này được sử dụng để làm rõ bản chất của nhân quyền, đánh giá thực trạng hoạt động chống phá, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp lập pháp.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu, luận án khai thác các nguồn văn bản chính thống:
- Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII; Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992.
- Các công ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc (khoảng 70 văn bản quy chuẩn tính đến thời điểm nghiên cứu).
- Các văn kiện pháp lý và tài liệu ngoại giao quốc tế: Dự luật bổ sung 954 của Thượng viện Hoa Kỳ (ngày 23/9/1993); các tuyên bố ngoại giao của các tổng thống Hoa Kỳ (G. Bush, R. Nixon, Bill Clinton); các ấn phẩm, tài liệu của các tổ chức phản động lưu vong và tổ chức phi chính phủ nước ngoài (như cuốn "Hồ sơ đỏ" xuất bản tháng 11/1995 tại California).
- Dữ liệu thực tiễn và tài liệu lưu trữ từ các cơ quan chức năng: số liệu đơn thư can thiệp từ nước ngoài (1992 - 1996), số liệu kiểm tra bưu chính và điện tín tháng 5/1996, tài liệu tổng kết của Cục An ninh điều tra (1996), kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp nhà nước KX09-09 nghiệm thu năm 1995 ("Đánh giá thực trạng tiềm lực quân sự và tiềm lực an ninh"), cùng Từ điển nghiệp vụ phổ thông của Bộ Nội vụ (1977).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nhân quyền và đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền ở nước ta hiện nay
Chương 1 gồm 3 mục lớn, tập trung giải quyết các vấn đề lý luận về nhân quyền, hoạt động lợi dụng nhân quyền và tính tất yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia.
Tại Mục 1.1, tác giả trình bày khái niệm nhân quyền và đặc điểm phát triển lịch sử. Luận án đưa ra định nghĩa: Nhân quyền là một phạm trù tổng hợp, hàm chứa nhu cầu tự nhiên vốn có của con người trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được pháp luật (luật quốc gia và luật quốc tế) ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Tác giả phân tích các thuộc tính đối lập biện chứng của quyền con người: tính phổ biến và tính đặc thù; tính trừu tượng và tính cụ thể; quyền cá nhân và quyền tập thể, cộng đồng; giá trị vĩnh hằng và đại lượng biến đổi theo lịch sử; quyền tự do và cơ chế kiểm soát xã hội; tính nhân loại và tính giai cấp; vai trò quản lý của nhà nước và yêu cầu ngăn ngừa sự lạm quyền. Dưới góc độ pháp lý, luận án phân loại quyền con người thành 4 nhóm quyền:
- Các quyền về chính trị (bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, tự do ngôn luận, tự do báo chí, lập hội, hội họp, biểu tình, bãi công, tự do tín ngưỡng).
- Các quyền về tự do cá nhân (tự do đi lại và cư trú, ra nước ngoài, bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, chỗ ở, thư tín, quyền khiếu nại).
- Các quyền về kinh tế - xã hội (lao động, tự do kinh doanh, sở hữu và thừa kế tài sản, học tập, nghiên cứu sáng chế, bảo vệ y tế, hôn nhân và gia đình).
- Các quyền của tập thể, nhóm, giới, cộng đồng và nhân loại (quyền phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người tị nạn, quyền tự quyết dân tộc, phát triển, hòa bình, môi trường).
Xem xét tiến trình lịch sử, tác giả chỉ ra các dấu mốc: mầm mống sơ khai thời cổ đại (Bộ luật Babilon năm 500 TCN, tuyên bố của Xpác-ta-cút ở La Mã); giai đoạn tư sản thế kỷ XVII - XVIII với thuyết pháp luật tự nhiên đối lập với thần quyền (Kiến nghị về các quyền năm 1628 và Luật về các quyền năm 1689 ở Anh, Tuyên ngôn Độc lập Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789, tư tưởng của Can-tơ, Lốc-cơ, Rút-xô); sự lắng xuống ở thế kỷ XIX khi thuyết pháp luật thực định chiếm ưu thế; và giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai với sự ra đời của Liên Hợp Quốc (Hiến chương San Francisco, Tuyên ngôn năm 1948 và hai Công ước năm 1966). Luận án cũng phân tích bốn loại tư tưởng nhân quyền đương đại: tư tưởng của các nước phương Tây (chuyển biến từ quyền tiêu cực sang quyền tích cực, song gắn với "ngoại giao nhân quyền"); tư tưởng của các nước xã hội chủ nghĩa (đề cao bản chất dân chủ, quyền kinh tế - xã hội nhưng từng bộc lộ nhược điểm quan liêu, xem nhẹ nghiên cứu lý luận); tư tưởng của các nước thế giới thứ ba (đóng góp học thuyết "Quyền con người thế hệ thứ ba" về quyền liên đới như hòa bình, phát triển, môi trường); và tư tưởng trong luật quốc tế (kết quả của đấu tranh, thỏa hiệp giữa các hệ thống chính trị).
Tại Mục 1.2, luận án làm rõ khái niệm hoạt động lợi dụng nhân quyền: là hoạt động của các thế lực thù địch sử dụng, áp đặt, xuyên tạc những vấn đề liên quan đến quyền con người hòng gây sức ép kinh tế, chính trị, tư tưởng nhằm chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin, các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Tác giả khái quát ba đặc trưng bản chất:
- Về lực lượng: có sự câu kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa đế quốc (đứng đầu là Hoa Kỳ), phản động quốc tế, phản động lưu vong và phản động trong nước. Hoa Kỳ thể chế hóa "ngoại giao nhân quyền" thành quốc sách (tiêu biểu là Dự luật bổ sung 954 ngày 23/9/1993 của Thượng viện Hoa Kỳ), đồng thời sử dụng các tổ chức như Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (NED), Viện Cộng hòa Quốc tế (IRI), Viện Dân chủ Quốc gia (NDI), Trung tâm Doanh nghiệp Tư nhân Quốc tế (CIPE), Viện Vận động Dân chủ cho Việt Nam (IDV), cùng các nhóm lưu vong tại nước ngoài.
- Về phương thức, thủ đoạn: triệt để khai thác những sai sót, tiêu cực trong nước (sai lầm cải cách ruộng đất, tệ tham nhũng, cửa quyền, bắt giữ oan sai) để quy kết thành bản chất; tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền để phủ nhận chủ quyền quốc gia ("nhân quyền cao hơn chủ quyền"); xuất bản các ấn phẩm vu khống (như cuốn sách 697 trang "Hồ sơ đỏ - Năm mươi năm vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam 1945 - 1995" xuất bản tháng 11/1995); lợi dụng các diễn đàn quốc tế (Hội nghị Nhân quyền Vienna tháng 6/1993, Geneva tháng 2/1994, Bangkok tháng 3/1993, Seoul tháng 7/1994, thủ tục 1503 của Liên Hợp Quốc); gửi đơn thư can thiệp hàng loạt nhằm đòi thả các đối tượng vi phạm pháp luật mà họ gọi là "tù nhân lương tâm"; và chuyển tài liệu tâm lý chiến qua đường bưu điện, máy FAX.
- Về mục đích: nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, thúc đẩy chuyển hóa đa nguyên, đa đảng theo mô hình phương Tây thông qua "diễn biến hòa bình".
Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu và sự kiện thực tế về hoạt động lợi dụng nhân quyền và công tác đấu tranh được ghi nhận trong văn bản luận án:
| Thời gian / Dữ liệu |
Sự kiện / Hiện tượng phản ánh trong văn bản |
Nguồn / Cơ quan ghi nhận |
| Năm 1977 |
Tổng thống Mỹ J. Carter đưa nhân quyền thành hạt nhân của chính sách đối ngoại, mở đầu chiến lược "ngoại giao nhân quyền". |
Luận án trích dẫn phân tích học thuyết Brê-din-xki |
| 28/9/1991 và 9/1/1992 |
Tuyên bố của Tổng thống Mỹ G. Bush về việc đối phó với ý thức hệ cộng sản ở Đông Á và ủng hộ cải cách theo hướng phương Tây ở Việt Nam. |
Trích dẫn tuyên bố của người đứng đầu chính quyền Hoa Kỳ |
| Năm 1992 |
Hơn 40.000 đơn thư từ các nước phương Tây gửi vào Việt Nam để can thiệp chính trị, đòi trả tự do cho các can phạm. |
Báo cáo dẫn tại trang 38 luận án |
| Tháng 3/1993 |
Việt Nam vận động và đấu tranh tại Hội nghị Nhân quyền khu vực châu Á. |
Dữ liệu ngoại giao và pháp lý quốc tế |
| Tháng 6/1993 |
Hội nghị Nhân quyền thế giới lần thứ II tại Vienna (Áo); đấu tranh vô hiệu hóa hoạt động quấy rối của các nhóm phản động lưu vong. |
Báo Terra Viva, tài liệu diễn đàn NGO |
| 23/9/1993 |
Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Dự luật bổ sung 954 gắn quan hệ song phương với đòi hỏi cải cách chính trị tại Việt Nam. |
Văn kiện lập pháp của Thượng viện Hoa Kỳ |
| Từ năm 1993 đến 1996 |
Gần 100.000 đơn thư từ các tổ chức nước ngoài gửi vào Việt Nam nhằm gây sức ép về các vụ án an ninh quốc gia. |
Số liệu tổng hợp công tác đấu tranh |
| Tháng 2/1994 |
Đấu tranh ngoại giao và pháp lý tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở Geneva. |
Dữ liệu đối ngoại của Nhà nước Việt Nam |
| 11/7/1995 |
Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhân dịp bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đề cập vấn đề tự do chính trị. |
Tuyên bố chính thức của Nhà Trắng |
| Tháng 11/1995 |
Nhóm người Việt tại California xuất bản cuốn "Hồ sơ đỏ" (dày 697 trang) nhằm xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. |
Dữ liệu quản lý thông tin an ninh |
| Tháng 5/1996 |
Cơ quan chức năng phát hiện 79 đầu ấn phẩm (gồm 2.400 bản) chuyển qua đường bưu điện và máy FAX vào nội địa nhằm kích động. |
Dữ liệu nghiệp vụ an ninh |
Tại Mục 1.3, luận án làm rõ tính tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh. Về mặt khái niệm, tác giả so sánh hai quan niệm về an ninh quốc gia: quan niệm chỉ coi an ninh quốc gia là an ninh chính trị, và quan niệm bao hàm cả an ninh chính trị lẫn an ninh xã hội (trật tự an toàn xã hội). Luận án nhất trí với quan niệm thứ hai, dựa trên Từ điển nghiệp vụ phổ thông của Bộ Nội vụ (1977), tư tưởng Hồ Chí Minh về "trật tự trị an" và "an ninh xã hội", cùng Đề tài khoa học cấp nhà nước KX09-09 (nghiệm thu năm 1995). Theo đó: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển, vững vàng về mọi mặt của một quốc gia, bao gồm an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Tính tất yếu bắt nguồn từ âm mưu "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc, từ sự tồn tại của ba cụm mâu thuẫn nhận thức quốc tế (tính phổ biến đối lập tính đặc thù; tương quan giữa quyền dân sự - chính trị và kinh tế - văn hóa; và việc gắn điều kiện nhân quyền với viện trợ phát triển), cùng những thiếu sót trong đời sống dân sinh, dân trí và hoạt động tư pháp ở trong nước. Tác giả xác định ba yêu cầu cơ bản trong cuộc đấu tranh: yêu cầu chính trị (phục vụ đường lối đổi mới, bảo đảm ổn định), yêu cầu chuyên môn (chủ động nắm tình hình, phối hợp liên ngành, phân hóa đối tượng), và yêu cầu pháp luật (cán bộ và công dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, vận dụng nhuần nhuyễn luật quốc gia và quốc tế).
Chương 2: Thực trạng pháp luật trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và chống lợi dụng nhân quyền
Chương 2 gồm 2 mục chính, phân tích vai trò thực tế của công cụ pháp luật và đánh giá hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam trong giai đoạn này.
Tại Mục 2.1, tác giả luận giải vị trí, vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và chống lợi dụng nhân quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia trên bốn phương diện căn bản:
- Pháp luật là phương tiện thể chế hóa các giá trị quyền con người: biến các quyền tự nhiên, đạo đức và nguyện vọng chính đáng của nhân dân thành các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực công.
- Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước đối với việc thực thi và bảo vệ quyền con người: xác định rõ giới hạn hành vi của công dân, quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan công quyền, ngăn chặn các hành vi lạm quyền hoặc xâm hại quyền của người khác.
- Pháp luật là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng quyền con người: tạo cơ sở pháp lý vững chắc để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, bạo loạn lật đổ, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân của các lực lượng thù địch núp bóng danh nghĩa dân chủ, nhân quyền.
- Pháp luật là phương tiện thể hiện sự thỏa thuận, cam kết giữa quốc gia và cộng đồng quốc tế: luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, tạo hành lang pháp lý để hợp tác quốc tế bình đẳng, đồng thời là công cụ pháp lý bảo vệ chủ quyền quốc gia trước các yêu sách can thiệp từ bên ngoài.
Tại Mục 2.2, luận án đánh giá toàn diện thực trạng tình hình pháp luật thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam:
- Về mặt lập pháp: Hiến pháp năm 1992 và các bộ luật, đạo luật chuyên ngành đã ghi nhận hệ thống quyền công dân rộng rãi trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp luật còn bộc lộ nhiều điểm bất cập: thiếu nhiều luật cơ bản để cụ thể hóa các quyền Hiến định; các văn bản dưới luật còn cồng kềnh, chồng chéo, mâu thuẫn; nhiều quy định chưa theo kịp tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Về mặt thực thi và áp dụng pháp luật: Nhận thức pháp lý của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế; ý thức tôn trọng pháp chế chưa cao. Tồn tại những hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy công quyền. Đáng chú ý, các vi phạm trong hoạt động tư pháp (như bắt giữ oan sai, vi phạm thủ tục giam giữ, điều tra, xét xử kéo dài) xảy ra ở một số địa phương không chỉ xâm phạm trực tiếp quyền công dân mà còn tạo ra sơ hở, trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài khai thác, phóng đại nhằm kích động dư luận và vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và chống lợi dụng nhân quyền
Chương 3 đề xuất định hướng chính sách và các giải pháp lập pháp, tư pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả pháp lý của cuộc đấu tranh.
Tại Mục 3.1, tác giả xác định các phương hướng cơ bản:
- Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy con người làm trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; gắn đổi mới kinh tế với đổi mới từng bước hệ thống chính trị.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
- Bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và toàn diện của hệ thống pháp luật; kịp thời thể chế hóa đầy đủ các quyền con người đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận thành các quy phạm pháp luật thực định.
- Kết hợp hài hòa giữa pháp luật quốc gia và các chuẩn mực pháp luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên; kiên định nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, không chấp nhận việc áp đặt tiêu chuẩn nhân quyền phương Tây để can thiệp nội bộ.
Tại Mục 3.2, luận án đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các đạo luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân; chú trọng hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và an ninh quốc gia nhằm vừa bảo đảm xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, vừa ngăn ngừa triệt để các hành vi vi phạm tố tụng, bắt giữ oan sai. Ban hành các văn bản quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện các quyền tự do dân chủ (quyền khiếu nại, tố cáo, quyền thông tin, lập hội).
- Nhóm giải pháp tăng cường thực thi và bảo vệ pháp luật: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát); xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, lạm quyền, sách nhiễu; thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý, lý luận chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác pháp luật và an ninh; trang bị kiến thức sâu sắc về luật pháp quốc tế và các công ước nhân quyền.
- Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục và hợp tác quốc tế: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật trong các tầng lớp nhân dân; phổ biến rộng rãi nội dung các điều ước quốc tế về quyền con người; chủ động cung cấp thông tin chính xác về tình hình thực thi nhân quyền tại Việt Nam; tích cực tham gia các diễn đàn đa phương để đối thoại bình đẳng, bác bỏ các luận điệu vu cáo, tranh thủ sự đồng tình của dư luận tiến bộ trên thế giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học tại phần mở đầu:
- Đây là công trình khoa học đầu tiên trong nước nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về đề tài "Vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ an ninh quốc gia".
- Lần đầu tiên luận án phân tích cụ thể khái niệm và các đặc trưng bản chất của hoạt động lợi dụng nhân quyền; đánh giá khái quát thực trạng hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cũng như thực tiễn công tác đấu tranh của Việt Nam trong những năm đầu thời kỳ đổi mới.
- Luận án đi sâu làm rõ những đặc trưng cơ bản của pháp luật và thực trạng hệ thống pháp luật thực định Việt Nam trong lĩnh vực thực hiện, bảo vệ quyền con người và đấu tranh chống các hành vi lợi dụng nhân quyền.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án kiến nghị hệ thống phương hướng và các giải pháp lập pháp, tư pháp cơ bản nhằm đổi mới, hoàn thiện pháp luật phục vụ đắc lực cho công tác bảo vệ quyền con người gắn liền với bảo vệ an ninh quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi tiếp cận chủ yếu xuất phát từ chuyên ngành Lý luận Nhà nước - Pháp quyền. Do đó, công trình tập trung giải quyết các vấn đề ở tầm nguyên lý, bản chất và định hướng thể chế pháp lý, chưa thể bao quát sâu sắc mọi khía cạnh phi pháp lý (như các giải pháp chuyên biệt về kinh tế, ngoại giao, kỹ thuật nghiệp vụ an ninh) hoặc đi sâu vào từng thủ tục tố tụng cụ thể trong từng vụ án an ninh quốc gia.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:
- Tiếp tục nghiên cứu việc nội luật hóa chi tiết các công ước quốc tế về quyền con người vào các ngành luật thực định của Việt Nam (luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật hành chính).
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế pháp lý chuyên biệt nhằm tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và phòng chống oan sai trong hoạt động tư pháp trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với các cơ quan lập pháp và cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách: Các luận điểm và kiến nghị ở Chương 3 cung cấp cơ sở lý luận cho quá trình thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 thành các đạo luật cụ thể về quyền công dân và bảo vệ an ninh trật tự.
- Đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật và lực lượng an ninh (Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát): Mục 1.2 và Mục 2.2 là tài liệu hữu ích giúp cán bộ thực tiễn nhận diện rõ các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng nhân quyền, nắm vững các số liệu thực tế, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật tố tụng, tránh sơ hở nghiệp vụ trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Luật học, Chính trị học: Công trình cung cấp hệ thống tài liệu có giá trị về lịch sử tư tưởng quyền con người, quan điểm mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền, hỗ trợ trực tiếp cho công tác giảng dạy các môn Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Quốc tế và Bảo vệ An ninh quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn định nghĩa nào về an ninh quốc gia và căn cứ vào đâu?
Luận án lựa chọn quan niệm an ninh quốc gia bao hàm cả an ninh chính trị và an ninh xã hội (trật tự an toàn xã hội): "An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển, vững vàng về mọi mặt của một quốc gia, bao gồm an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia". Tác giả căn cứ vào Từ điển nghiệp vụ phổ thông của Bộ Nội vụ (1977), tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh (chuyển biến từ khái niệm "trật tự trị an" sang "an ninh xã hội"), tinh thần Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, và kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp nhà nước KX09-09 nghiệm thu năm 1995.
2. Khái niệm hoạt động lợi dụng nhân quyền được tác giả xác định như thế nào?
Tác giả định nghĩa hoạt động lợi dụng nhân quyền là hoạt động của các thế lực thù địch sử dụng, áp đặt, xuyên tạc những vấn đề liên quan đến quyền con người, hòng gây sức ép về kinh tế, chính trị, tư tưởng nhằm chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin, các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản trên thế giới và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Hoạt động này có 3 đặc trưng: có sự liên kết chặt chẽ của các thế lực thù địch bên ngoài và phản động trong nước; triệt để khai thác, thổi phồng các sai sót, bất đồng nội bộ; và nhằm mục tiêu chính trị lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
3. Các thế lực thù địch đã sử dụng những phương thức, thủ đoạn cụ thể nào theo số liệu luận án công bố?
Các thủ đoạn cụ thể bao gồm:
- Xuất bản sách báo, ấn phẩm vu cáo (điển hình là cuốn "Hồ sơ đỏ" dày 697 trang xuất bản tháng 11/1995 tại California).
- Tán phát tài liệu tâm lý chiến qua đường bưu điện và máy FAX (riêng tháng 5/1996 phát hiện 79 đầu ấn phẩm với 2.400 bản).
- Lợi dụng các diễn đàn quốc tế (Hội nghị Vienna 1993, Geneva 1994, thủ tục 1503 của Liên Hợp Quốc).
- Gửi đơn thư can thiệp hàng loạt vào Việt Nam đòi thả các đối tượng vi phạm an ninh quốc gia (năm 1992 ghi nhận hơn 40.000 đơn thư; từ năm 1993 đến 1996 có gần 100.000 đơn thư).
- Móc nối giữa các đối tượng lưu vong và phần tử chống đối trong nước để kích động gây bạo loạn hoặc tổ chức các chiến dịch đòi dân chủ kiểu phương Tây.
4. Vì sao hoàn thiện pháp luật lại được coi là giải pháp tất yếu trong đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền?
Theo luận án, pháp luật vừa là công cụ thể chế hóa và bảo vệ quyền lợi của nhân dân, vừa là vũ khí sắc bén để ngăn chặn hành vi phạm pháp. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật giúp loại bỏ những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp (như tham nhũng, bắt giữ oan sai) - vốn là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch khai thác chống phá. Hoàn thiện pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý xã hội, đồng thời thực thi cam kết quốc tế bình đẳng, chủ động đấu tranh trên trường quốc tế.
5. Luận án phân chia quyền con người thành những nhóm quyền cơ bản nào?
Tiếp cận theo phương pháp của khoa học pháp lý, luận án phân loại quyền con người thành 4 nhóm:
- Nhóm 1: Các quyền về chính trị.
- Nhóm 2: Các quyền về tự do cá nhân.
- Nhóm 3: Các quyền về kinh tế - xã hội.
- Nhóm 4: Các quyền của tập thể, nhóm, giới, cộng đồng và nhân loại.
Kết luận
Luận án "Vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn Quang Thiện là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước - Pháp quyền tại thời điểm năm 1996. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, phân tích thực trạng các hoạt động lợi dụng nhân quyền chống phá Việt Nam gắn với số liệu cụ thể, và khẳng định vị trí trung tâm của pháp luật trong việc vừa bảo vệ quyền công dân vừa giữ vững an ninh quốc gia. Hệ thống phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất đã cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.