Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN VỀ HỘ TỊCH CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm Hộ tịch, bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân. Khái niệm hộ tịch: “Hộ tịch” là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội, từ trước đến nay vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”. Xét từ góc độ ngôn ngữ học “Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính, “Hộ” là thành tố phụ.
Trong các từ điển “Hộ tịch” có nhiều nghĩa khác nhau. “ sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Dưới góc độ ngôn ngữ, khái niệm “Hộ tịch” được giải thích trong nhiều từ điển Hán – Việt của nhiều tác giả khác nhau. “Hộ tịch” cũng là sự kiện quan trọng của công dân là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống pháp lý tiếng Việt, khái niệm Hộ tịch trải qua cả một quá trình lịch sử, khái niệm Hộ tịch đã có nhiều nhà nghiên cứu, thảo luận.
Vì thế không dễ định nghĩa một cách minh bạch, các nhà xây dựng pháp luật đã căn cứ khái niệm HT như với một tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Luật Hộ tịch năm 2014 ra đời quy định: “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật là Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch. Như vậy, “Hộ tịch” là tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết và có nhiều nhà nghiên cứu có nhiều cách hiểu khác nhau, ngoài ra còn làm cho sự hiểu nhầm giữa hộ khẩu và hộ tịch, ảnh hưởng đến sự nhận thức của một số công dân trong xã hội không hiểu rõ thế nào là hộ khẩu và hộ tịch 1. Khái niệm quyền của công dân về hộ tịch: 9 Theo Điều 2 Luật Hộ tịch 2014, có thể định nghĩa khái niệm hộ tịch như sau: Hộ tịch là những sự kiện hộ tịch như: Khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử.
Để bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân, trước tiên theo Hiến pháp 2013 đã được Nhà nước thừa nhận Quyền con người, quyền công dân, vì thực tế cho thấy Quyền con người là giá trị cốt lõi của nhân loại phải được nhà nước bảo đảm; QCN được hưởng một cách mặc nhiên và Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm cũng như phải bảo vệ cho những quyền đó được thực hiện trên thực tế, nhất là bảo đảm trong công tác HT. Vì thế, bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân đã cho ta thấy được sự quan tâm và bảo vệ QCN đã cho ra đời Luật HT năm 2014 liên quan đến việc bảo đảm thực hiện QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013. Có thể nói, đây là lần đầu tiên Việt Nam nước ta có văn bản ở tầm Luật để điều chỉnh riêng về lĩnh vực HT, qua bao nhiêu năm chỉ thực hiện bằng các Nghị định của Chính phủ. Luật Hộ tịch năm 2014 cho ra đời, có thể thấy đây chính là một cuộc “cách mạng” trong công đăng ký, quản lý HT đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ theo từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật HT năm 2014, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết; Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư, bảo đảm cho công dân trong đăng ký Hộ tịch Pháp luật quản lý về HT ở Việt Nam nước ta hiện nay đã mở rộng dân chủ và tính công khai trong hoạt động QLNN về HT, đã giảm bớt nhiều các 10 TTHC gây phiền hà cho người dân, triệt bỏ những căn bệnh như quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong giải quyết các TTHC nhất là liên quan đến lĩnh vực HT, xây dựng các TTHC mới theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản và thuận lợi cho người dân khi thực hiện pháp luật về HT. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và tại Quận 6 nói riêng đã có những bước mới nhảy vọt, cụ thể, từ năm 2014 đã thực hiện theo Quy chế thực hiện liên thông thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và liên thông thủ tục đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2016 sửa đổi bổ sung tại Quyết định số 42/2016/QĐ-UBND ngày 28/10/2016. Có thể nói, trong công tác quản lý HT nói chung và đăng ký khai sinh cho trẻ dưới 6 tuổi nói riêng đã có ý nghĩa sâu sắc giảm bớt thời gian liên quan đến TTHC cho người dân.
Đây có thể nói, là bước tốt nhất trong dịch vụ đăng ký HT của nền hành chính phục vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Khái niệm về bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân: Bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân là một hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong công tác HT, góp phần phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội. Nhà nước Việt Nam là của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp 2013 đã nói lên QCN và QCD.
Trên cơ sở xác định việc đăng ký hộ tịch là một trong những lĩnh vực quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về HT, có liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Hộ tịch đã dành riêng một điều (Điều 6) để xác định quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của công dân. Theo đó, các sự kiện hộ tịch xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam của mọi cá nhân, không phân biệt dân tộc, quốc tịch đều phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Ngoài ra, để bảo đảm thực thi các quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ 11 tịch của cá nhân, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng đưa ra cơ chế trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm điều kiện thuận lợi nhất để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch cũng như điều kiện về ngân sách, cơ sở vật chất kỹ thuật để cơ quan đăng ký hộ tịch có điều kiện để thực thi tốt nhiệm vụ của mình trong đăng ký hộ tịch (Điều 7). Xuất phát từ quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đăng ký hộ tịch, Luật Hộ tịch năm 2014 quy định rõ: khi đăng ký hộ tịch, người dân phải được tiếp cận các thủ tục đăng ký một cách công khai, minh bạch; cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm ghi vào Sổ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ các nội dung đăng ký hộ tịch; ngoài ra, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng quy định mỗi loại việc hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật Hộ tịch (Điều 8).
Nội dung bảo đảm các quyền về Hộ tịch của công dân: 1. Bảo đảm về quyền khai sinh: Tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân, nhất là quan tâm đến quyền lợi hợp pháp cho trẻ em khi được sinh ra phải bảo đảm được đăng ký khai sinh, có giấy tờ về Hộ tịch. Quy định tại Điều 7 Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã khẳng định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi họ ra đời”. Khai sinh là quyền cơ bản của công dân.
Trong giấy chứng sinh đều thể hiện rõ, “trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha/mẹ hoặc người nuôi dưỡng phải đi khai sinh cho trẻ” Bởi vì đăng ký khai sinh là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra. Giấy khai sinh là cơ sở pháp lý xác định các mối quan hệ của người được đăng ký khai sinh. Trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa công dân với Nhà nước, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái. Giấy khai sinh cũng là văn bản pháp lý quan trọng để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thông qua 12 các thông tin cơ bản như: Quốc tịch, có bản sắc riêng, họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ của mỗi người…Để bảo đảm cho người dân thực hiện quyền khai sinh.
Luật HT năm 2014 quy định cụ thể đối với UBND cấp xã tại (Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16) về thẩm quyền đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh; trách nhiệm đăng ký khai sinh; thủ tục đăng ký khai sinh; đối với UBND cấp Huyện tại (Điều 35, Điều 36 1. Bảo đảm về quyền kết hôn: Theo Luật Hôn nhân và gia đình Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc. Vì vậy Quyền kết hôn là quyền nam, nữ được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền không trái pháp luật, đây cũng là một trong những quyền tại Hiến pháp đã ghi nhận, quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn. Để bảo đảm quyền của công dân trong Kết hôn cho nam, nữ đăng ký kết hôn với nhau.
Luật Hôn nhân gia đình đã quy định cụ thể :“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.