Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng nhà nước tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước tại Việt Nam, nêu rõ thực trạng và giải pháp cải cách hiệu quả.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Nhà Nước Và Pháp Luật

Chuyên ngành

Luật Nhà Nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2002

218
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG NHÀ NƯỚC

1.1. Khái quát chung về công chứng nhà nước

1.1.1. Nguyên tắc về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước

1.1.2. Sự phát triển về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG NHÀ NƯỚC

2.1. Cơ quan thực hiện công chứng nhà nước

2.2. Nội dung hoạt động công chứng

2.3. Thủ tục thực hiện công chứng

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG NHÀ NƯỚC

3.1. Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước

3.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay

3.3. Hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh tổ chức và hoạt động công chứng, quy chế hoạt động của công chứng viên

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Hoạt Động Công Chứng Nhà Nước Tại Việt Nam

Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho tòa án, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động này góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ, duy trì kỷ cương xã hội. Tăng cường công tác công chứng là yêu cầu bức xúc của quản lý kinh tế, xã hội, hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong 10 năm, Nhà nước đã ban hành ba Nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (Nghị định 45/HĐBT, 31/CP, 75/2000), thể hiện sự quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật về công chứng. Thực tiễn cho thấy, hoạt động công chứng là "hàn thử biểu” của sự phát triển kinh tế xã hội [23]. Nền kinh tế thị trường, xã hội hóa ngày càng cao, các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng phức tạp, đòi hỏi tổ chức và hoạt động công chứng đáp ứng kịp thời.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Công Chứng Nhà Nước Việt Nam

Công chứng, chứng thực, làm chứng đã có từ lâu đời, biến đổi theo quan điểm về chứng cứ. Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau quy định khác nhau về tổ chức và hoạt động công chứng. Từ cổ đại đến trung cổ, người làm công chứng viên và người lập văn tự chưa được phân biệt rõ ràng. Thời cổ đại, viên thư lại soạn thảo khế ước (hợp đồng) theo trình tự chặt chẽ, khó thay đổi. Sự phát triển của công chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội. Có hai loại hình thực hiện công chứng: tư chứng thư và công chứng thư. Các tác giả đã đưa ra khái niệm "công" và "tư", giữa cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được Nhà nước giao nhiệm vụ hoặc Nhà nước trực tiếp thực hiện.

1.2. Vai Trò Của Hoạt Động Công Chứng Trong Xã Hội

Công chứng có vai trò quan trọng trong việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Tình hình hiện nay đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết bằng việc tổ chức lại hệ thống công chứng theo hướng thực hiện dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng, kiện toàn bộ máy và tinh giảm biên chế. Chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công chứng nói riêng nhằm giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các việc công chứng mà nhân dân và tổ chức yêu cầu [107, tr]. Thể chế công chứng là nội dung quan trọng và cần thiết trong đời sống kinh tế và xã hội.

II. Thách Thức Trong Hoạt Động Công Chứng Nhà Nước Hiện Nay

Hoạt động công chứng ở nước ta, dù đã đóng góp tích cực, vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Cần tổ chức lại hệ thống theo hướng dịch vụ công, có sự giám sát của cộng đồng, kiện toàn bộ máy, tinh giản biên chế. Cần chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công chứng nói riêng để giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các yêu cầu của nhân dân và tổ chức. Thể chế công chứng là nội dung quan trọng và cần thiết trong đời sống kinh tế và xã hội của tất cả các nước. Việc nghiên cứu về công chứng có thể nói là đang ở giai đoạn bắt đầu, còn thiếu nhiều cả lý luận và thực tiễn.

2.1. Bất Cập Trong Quy Trình và Thủ Tục Công Chứng

Tổ chức và hoạt động công chứng còn nhiều vấn đề cần giải quyết bằng việc tổ chức lại hệ thống công chứng theo hướng thực hiện dịch vụ cộng với sự giám sát của cộng đồng, kiện toàn bộ máy và tinh giảm biên chế một cách cơ bản [107, tr]. Chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công chứng nói riêng nhằm giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các việc công chứng mà nhân dân và tổ chức yêu cầu. Trong các quy định của pháp luật về công chứng trong dư luận xã hội cũng rhu quan điểm của các tác giả thì lĩnh vực công chứng dường như văn còn là nột lính vực thiếu nhất quán và còn nhiều mâu thuẫn.

2.2. Thiếu Nhất Quán trong Pháp Luật về Công Chứng

Trong các quy định của pháp luật công chứng trong dư luận xã hội cũng như quan điểm của các tác giả thì lĩnh vực công chứng dường như vẫn còn là một lĩnh vực thiếu nhất quán và còn nhiều mâu thuẫn. Hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm vừa qua, chừng mực nào đó đã đóng góp một phần tích cực vào việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Cần thiết phải có những nghiên cứu và đề xuất để giải quyết các hạn chế này.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Chứng Nhà Nước Hiện Nay

Để nâng cao hiệu quả, cần đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan bổ tạo tư pháp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng [107, tr]. Cần kiện toàn bộ máy và tinh giản biên chế, chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công chứng nói riêng.

3.1. Đổi Mới Tổ Chức và Quản Lý Hoạt Động Công Chứng

Cần đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan bổ tạo tư pháp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu lợi ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng [107, tr]. Hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm vừa qua, chừng mực nào đó đã đóng sóp một phần tích cực vào việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.

3.2. Hoàn Thiện Pháp Luật Điều Chỉnh Hoạt Động Công Chứng

Luận án đã có những đề xuất cụ thể để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện những văn bản pháp luật về công chứng, chứng thực, về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan quản lý công chứng, về quy chế hoạt động của công chứng viên. Pháp luật về công chứng ở nước ta phải nghiên cứu lịch sử truyền thống, thói quen trong việc làm chứng ở mỗi thời kỳ lịch sử và mỗi quốc gia riêng biệt. Nghiên cứu mối liên hệ giữa tục và luật, niềm tin trong giao tiếp cư xử hàng ngày.

3.3. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Hoạt Động Công Chứng

Ứng dụng công nghệ thông tin giúp số hóa hồ sơ, giảm thời gian xử lý, tăng tính minh bạch và kiểm soát. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng, kết nối các văn phòng công chứng, cơ quan quản lý nhà nước. Áp dụng chữ ký số, xác thực điện tử để thực hiện công chứng trực tuyến một phần hoặc toàn phần cho các giao dịch đơn giản. Đào tạo, nâng cao năng lực cho công chứng viên và cán bộ về công nghệ thông tin.

IV. Đạo Đức Nghề Nghiệp Công Chứng Viên Yếu Tố Then Chốt

Đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính khách quan, trung thực và công bằng của hoạt động công chứng. Công chứng viên cần tuân thủ các quy tắc đạo đức, liêm chính, tận tâm với công việc. Xây dựng quy tắc ứng xử chuẩn mực cho công chứng viên, đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm của công chứng viên trong việc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp.

4.1. Tăng Cường Kiểm Soát Hoạt Động Công Chứng

Tăng cường kiểm soát hoạt động công chứng là yếu tố quan trọng. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các văn phòng công chứngcông chứng viên. Thiết lập đường dây nóng, hộp thư góp ý để tiếp nhận thông tin phản ánh về sai phạm. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên để răn đe, phòng ngừa.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Công Chứng

Nâng cao chất lượng dịch vụ công chứng là mục tiêu quan trọng. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chứng viên. Chuẩn hóa quy trình, thủ tục công chứng, rút ngắn thời gian giải quyết. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho các văn phòng công chứng. Khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân về dịch vụ công chứng để có những điều chỉnh phù hợp.

V. Thực Tiễn Công Chứng Bất Động Sản và Hợp Đồng Tại VN

Công chứng bất động sảncông chứng hợp đồng là hai lĩnh vực quan trọng, chiếm phần lớn hoạt động công chứng. Cần có quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục công chứng các loại giao dịch này, đảm bảo tính minh bạch, an toàn pháp lý cho các bên. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động công chứng bất động sảncông chứng hợp đồng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công chứng cho người dân, nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch.

5.1. Cơ Chế Một Cửa Trong Công Chứng Giải Pháp Hiệu Quả

Áp dụng cơ chế một cửa trong công chứng giúp giảm thiểu thời gian, chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Các cơ quan liên quan (địa chính, thuế,...) phối hợp chặt chẽ, giải quyết thủ tục nhanh chóng, thuận tiện. Xây dựng phần mềm quản lý hồ sơ, kết nối các cơ quan, đơn vị để trao đổi thông tin, giảm thiểu giấy tờ. Đào tạo cán bộ, công chức về quy trình cơ chế một cửa, đảm bảo thực hiện hiệu quả.

5.2. Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Công Chứng Tiêu Chí Nào

Việc đánh giá hiệu quả công chứng giúp xác định những điểm mạnh, điểm yếu để có giải pháp cải thiện. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá khách quan, toàn diện, dựa trên các yếu tố: số lượng vụ việc được công chứng, thời gian giải quyết, mức độ hài lòng của người dân, số lượng khiếu nại, tố cáo. Tổ chức khảo sát, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có kết quả đánh giá chính xác. Công khai kết quả đánh giá để các cơ quan, đơn vị có liên quan tham khảo, học hỏi.

VI. Tương Lai Phát Triển và Cải Cách Công Chứng Nhà Nước

Tương lai của công chứng nhà nước gắn liền với quá trình cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế công chứng, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động công chứng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc quản lý, giám sát hoạt động công chứng.

6.1. Vai Trò Quản Lý Nhà Nước Về Công Chứng

Quản lý nhà nước về công chứng cần tập trung vào việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch phát triển mạng lưới văn phòng công chứng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chứng viên, kiểm tra, giám sát hoạt động công chứng. Phân cấp, phân quyền hợp lý cho các địa phương, đảm bảo tính chủ động, sáng tạo. Tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý hoạt động công chứng.

6.2. Mở Rộng Thẩm Quyền Công Chứng Nên Hay Không

Việc mở rộng thẩm quyền công chứng cần được cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới về việc mở rộng thẩm quyền công chứng. Đánh giá tác động của việc mở rộng thẩm quyền công chứng đến hiệu quả hoạt động, quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Xây dựng quy trình, thủ tục công chứng rõ ràng, minh bạch cho các loại giao dịch mới.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOAT ĐỘNG CONG CHUNG NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm công chứng nhà nước Lịch sử công chứng hay nói chính xác hơn là yêu cầu chứng nhận. xác nhận, làm chứng đã có từ hàng nghìn năm, đã trải qua những biến đổi cùng với những quan điểm, quan niệm về chứng cứ.

Các chế độ chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau thì tổ chức và hoạt động công chứng cũng được quy định khác nhau. Hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội. Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (công chứng viên) và người lập văn tự thuê, chưa được phân biệt rõ ràng, Ở thời kỳ cổ đại người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo sác khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng) [24, tr. Lịch sử Nhà nước đã có thời kỳ chưa có khái niệm công chứng, một 36 tác giả nghiên cứu về công chứng cho rằng có hai loại hình thực hiện cong chứng là ne chứng thư và công chứng thu’.

Các tác gia đã dua ra các khái niệm “công” và "tr", giữa cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được Nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện hành vi công chứng hoặc Nhà nước trực tiếp thực hiện các việc công chứng [7], (98, tr. Vấn dé này phải được lý giải một cách cụ thể như sau: - Tu chứng thư (người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tat một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những 14 người Có uy tin trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhân. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyét vụ việc tranh chấp. Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tư chứng thư” (54, tr.

Day là một dạng chứng nhận của bất ky một cá nhân nào. thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ được giao, Nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyến khích nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Loại hoạt động này chúng ta thấy xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay. Ở Viet Nam trong Quốc triều thư khế (Thể thức giấy tờ, khế ước dùng trong triều) như chúc thư, van khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất, văn ước vay nợ, giấy giao kèo, văn ước bán trâu, bò.

đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh. người viết thay phải điểm chi vào văn tu (54, tr. Day là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn chế tranh chấp kiện tụng. Trong xã hội phong kiến ở Việt Nam chính vì có những bảo đảm trong quan hệ giao dịch nên nhân dân đã tìm đến với Quốc triều hình luật, Quốc triều thư kế vốn có chứa đựng những chuẩn mực sinh hoạt đời thường.

Một điều lý thú trong đời sống hàng ngày từ xa xưa ở Việt Nam đã có câu "Nói có sách, mach có chứng” phần nào như một luật tục. Cho đến nhà Nguyễn Gia Long ban hành Hoàng Việt luật lệ vẫn tiếp tục được nhân dân và quan lạ! chính quyền nhà Nguyễn vận dụng [53, tr. Bộ luật dân sự của nước ta hiện nay vẫn quy định trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực. Nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực thì phải có chứng cứ [1], [11], chứng cứ ở đây bao hàm cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất kỳ tô chức, cá nhân nào cung cấp.

Khi nghiên cứu về khái niệm công chứng thì đồng thời phải nghiên cứu đến cơ sở hình thành khái niệm, lịch sử truyền thống, thói quen trong việc lam chứng ở mỗi thời kỳ lịch sử và mỗi quốc gia riêng biệt. Nghiên cứu mối lién hệ giữa tục và luật, niềm tin trong giao tiếp cư xử hàng ngày; cả trong mua, bán tài sản có giá trị lớn. Nghiên cứu đặc điểm của tư tưởng chính tri, pháp lý cổ truyền của mỗi quốc gia. Một số quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Ang-l6 Sác-xông, "công chứng" là một nghề tự do hoàn toàn, Nhà nước không thừa nhận thể chế công chứng có nghĩa là không thừa nhận thể chế người lập văn bản hoạt động chuyên nghiệp, không có sự can thiệp của quyền lực hành pháp, hoạt động công chứng này chi thuần túy là hoạt động dịch vụ, tư vấn, thảo văn bản kiện tụng do các luật sư làm dịch vụ.

Người soạn thảo van bản không phải là công chứng viên chuyên nghiệp, hoạt động chứng nhận có tính chất linh hoạt và mềm dẻo hơn, giá trị pháp lý của văn bản do người làm chứng lập ra chi có giá trị chứng cứ {7, tr. Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân tổ chức nào, nhằm phản ánh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ cho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, xác nhận ngày mất, làm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà. Day là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghia thiết thực trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chức với danh nghĩa là một tổ chức được Nhà nước công nhận hoặc cho phép hoạt động. Hoạt động tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như một nhu cầu tất yếu cho xã hội.

Thiết nghĩ, pháp luật về công chứng ở nước ta phải nghiên cứu để thực hiện đa dạng hóa các loại hình hoạt động chứng nhận và cung cấp chứng cứ. - Công chứng thư (Nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích 16 công, do Nha nước trực tiếp hoặc gián tiếp quan lý. Vi vậy, được gọi là cong chứng. Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vi công chứng được Nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định của pháp luật hoậc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các hình thức Nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc Nhà nước ủy quyền (công chứng tự do).

Hiên tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấy công quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận cua Nhà nước, sự chứng nhận của quyền lực công (1, tr. Công chứng ở nước ta được hình thành (hiểu theo aghia hình thành một tổ chức) từ thời Pháp thuộc, lúc đó gọi là chưởng khế, hoạt động theo quy chế chưởng khế của người Pháp [7, tr. Thuật ngữ chưởng khế được hiểu như sau: Chưởng có nghĩa là chức vụ, chức tước mà mình dang nam giữ (chức mình giữ), một người được Nha nước giao cho một chức vụ nào đó. Khế có nghĩa là khế ước, hợp đồng, sự thể hiện ý chí với nhau, ý chí này phù hợp với các chủ thể (bày tỏ, tự nguyện).

Thuật ngữ chưởng khế có nghĩa là: Các việc công chứng do người có chức vụ hoặc được Nhà nước giao nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng (khế ước, van khẻ) hoặc lầ người lập hoặc giữ các khế ước, cấp bản sao khế ước cho các đương sự [97], (102, tr. Chứng nhận là cái dựa vào đó, để đảm bảo những sự kiện, hiện tượng diễn ra là có thật, là đúng sự thật. Có một số tài liệu nghiên cứu về công chứng cho rang, thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp), Notary (tiéng Anh), Notanat (tiếng Đức), Hotapiat (tiếng Nga) đều có gốc La tinh là Notarius, có nghĩa là ghi chép lập van ban (8, tr. Có quan điểm cho rằng, ban thân thuật ngữ cong chứng đã mang ý nghĩa là sự làm chứng cong khai, có dấu ấn của công quyền, công chứng viên tà người được Nhà nước bổ nhiệm thực hiện một cong vụ.

Thuật ngữ cong vụ ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộc vào những quy định của pháp 17 luật về nền hành chính công. Công chứng là một hoạt động hành chính công, lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thực, xác thực hoặc xác nhận một sự kiện, một hiện tượng đúng như là như thế. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng, hoạt động công chứng thể hiện vai trò của quần chúng (công chúng, dân chúng), hoạt động phục vụ lợi ích công cộng, thể hiện tính công khai do Nhà nước cho phép và thừa nhận (Public hoặc Notary public). Hoạt động công chứng không phải là hoạt động thực thi công quyền, không phải lấy quyền công, lẽ công mà chứng như quan điểm vừa nêu trên, chúng tôi tán thành với quan điểm này.

Quan niệm công chứng ở nước ta hiện nay là Nhà nước chứng nhận. thể hiện khá đậm nét về dấu ấn của quyền lực nhà nước. Vấn đề này sẽ được trình bày rõ hơn ở chương 3, phần nói về đổi mới quan niệm về công chứng. Nhà nước ủy quyền thực hiện công chứng: Đây là thể chế công chứng của người La Mã.

Được gọi là thể chế công chứng phỏng theo luật La Mã hav còn gọi là hệ thống công chứng La tinh (UINL) mà điển hình là công chứng của Cộng hòa Pháp. Theo thể chế này thi công chứng viên do Nhà nước bò nhiệm (Tổng thống hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Được Nhà nước ủy quyền thực hiện chức nang trong khuôn khổ một nghề tự do. Đặc điểm nổi bật của loại hình hoạt động này là công chứng viên người lập hợp đồng, là chuyên gia pháp lý tinh thông về nghiệp vụ, hoạt động bằng nguồn tài chính của riêng mình, tự quản và chịu trách nhiệm về mọi hành vi công chứng.

công chứng viên là người được Nhà nước ủy quyền dem lại tính đích thực cho hoạt động của các bên và bảo đảm cho nó có hiệu lực thi hành [91, tr. Văn bản công chứng có giá trị pháp lý rất cao, là bằng chứng không thể chối cãi được, buộc Tòa án phải thừa nhận và nhiều khi nó có giá trị như một bản án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng nhà nước tại Việt Nam" tập trung vào việc cải thiện quy trình và chất lượng dịch vụ công chứng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp. Tài liệu nêu rõ những thách thức hiện tại trong hoạt động công chứng, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả, bao gồm việc áp dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính.

Đọc tài liệu này, độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả công chứng, không chỉ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của công chứng tại Việt Nam, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thực hiện pháp luật về công chứng tại địa bàn thành phố hà nội, nơi phân tích chi tiết về việc thực hiện pháp luật công chứng tại Hà Nội, hoặc Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về dịch vụ công chứng ở việt nam, cung cấp cái nhìn tổng quan về dịch vụ công chứng trong bối cảnh pháp lý hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về lĩnh vực công chứng tại Việt Nam.