CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE VĂN PHÒNG CONG CHUNG VA PHAP LUAT VE VAN PHONG CONG CHUNG 1. Khai niệm, đặc điểm hoạt động công chứng va Văn phòng công chứng 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động công chứng 1. Khải niệm hoạt động công chứng Việc xác định chính xác bản chất công chứng có một vai trò lý luận và thực tiễn quan trọng, không những ảnh hưởng mang tính quyết định đến mô hình tô chức, cơ chế hoạt động mà căn cứ vào đó người ta còn khăng định được phạm vi, nội dung công chứng và quyền, nghĩa vụ của những cá nhân được nhà nước giao thực hiện quyền năng này.
Hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta xuất hiện từ rất sớm. Từ năm 1858 đến năm 1954 đã tồn tại thể chế công chứng Pháp tại Đông Dương, trong đó có Việt Nam và tập trung ở Sài Gòn. Các công chứng viên là công chức người Pháp ở nhiều cơ quan khác nhau với nhiệm vụ chủ yếu là công chứng hợp đồng mua bán bất động sản ở Pháp. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công và thiết lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945, bằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952 quy định thé lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đôi nhà cửa, ruộng đất đã chính thức đặt nền móng cho hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta.
Khái niệm đầu tiên về công chứng đã được nêu tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước, theo đó “Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tô chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp ly, hợp pháp hóa các văn ban, sự kiện do, lam cho các văn ban, sự kiện do có hiệu lực thực hiện”. Theo khái niệm này, công chứng được khẳng định mang tính quyền lực nhà nước và được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản là “lập và xác nhận văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý” cũng như “hợp pháp hóa” các văn bản và sự kiện đó. Đến khi Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tô chức và hoạt động công chứng nhà nước được ban hành, quan niệm vê công chứng cũng có sự thay đổi nhất định. Theo quy định tại Điều 1 của Nghị định số 45/HĐBT: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hop đông và giấy tờ được công chứng có giá trị chứng cứ”. Tại Điều 1 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tô chức kinh tế, tô chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phan phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hop dong và giấy tờ đã duoc công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyên chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bi Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu ”. Theo khái niệm nay, chủ thê thực hiện công chứng vẫn không được xác định nhưng căn cứ vào quy định về giá trị pháp lý của các hợp đồng, giấy tờ đã được chứng nhận, chủ thé công chứng bao gồm “công chứng nhà nước” và “Ủy ban nhân dân cấp có thâm quyền”.
Tuy nhiên, hợp đồng, giấy tờ đã được chứng nhận hoặc chứng thực sẽ không còn giá trị chứng cứ nếu bị Tòa án nhân dân tuyên bố vô hiệu. Tương tự như Nghị định SỐ 45/HDBT, giá trị thực hiện của văn bản công chứng không được đề cập đến, tính quyền lực nhà nước của công chứng chỉ được khang định thông qua chủ thé thực hiện công chứng. Tại khái niệm này, cụm từ “nhà nước” đã không xuất hiện trong khái niệm công chứng, các nhà làm luật đã tách biệt hành vi chứng nhận của công chứng nhà nước và chứng thực của Uy ban nhân dân câp có thâm quyên. Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực đã thay thế Nghị định số 31/CP.
Tại Nghị định này, khái niệm công chứng đã được sửa đổi: “Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định cua Nghị định nay”. Lần đầu tiên, chủ thể công chứng được khang định là Phòng công chứng. Việc quy định chủ thê thực hiện công chứng là tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng) cho thay ảnh hưởng to lớn của chế định công chứng các nước xã hội chủ nghĩa đến pháp luật công chứng Việt Nam. Thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực luôn gắn liền với nhau và cùng được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống pháp luật nói chung cũng như chế định công chứng nói riêng cũng đã có nhiều thay đổi nhăm đáp ứng được yêu cầu của xu hướng hội nhập, khu vực hóa và toàn cầu hóa. Trong bối cảnh này, Luật công chứng năm 2006 đã ra đời thay thế Nghị định số 75/2000/NĐ-CP xác định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tinh hợp pháp của hop dong, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đông, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu cẩu công chứng” (Điều 2). Như vay, chủ thé công chứng đã được khăng định là cá nhân công chứng viên; mục đích công chứng hướng đến không chỉ đơn thuần là “tính xác thực” mà còn bao gồm cả “tính hợp pháp” của các hợp đồng, giao dịch. Sự thay đổi về chủ thé công chứng (từ tổ chức hành nghề sang công chứng viên) đánh dấu xu hướng chuyền đổi thiết chế công chứng Việt Nam từ mô hình tổ chức công chứng nhà nước sang mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do.
Hiện nay, khai niệm công chứng đã được mở rộng hơn tại Luật công chứng năm 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tô chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cau công ching”. Lan đầu tiên, công chứng được mở rộng bao gồm cả chứng nhận tinh chính xác, hợp pháp của bản dịch. Như vậy, qua các giai đoạn khác nhau, khái niệm công chứng có một sé thay đổi nhất định. Sự thay đổi này không những thé hiện quan điểm chính thức của nha nước về bản chất công chứng mà còn phản ánh kỹ thuật lập pháp, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
của nước ta qua từng thời kỳ. Công chứng viên được nhà nước uy quyền, thay mặt cho nhà nước chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi giao kết hợp đồng, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp và các tổ chức hành nghề công chứng chịu sự quản lý, điêu tiệt chặt chẽ cua nhà nước. Việt Nam cũng giống như các nước đều quy định công chứng là hoạt động của cơ quan có thâm quyền xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hành vi pháp lý dân sự, sự kiện pháp lý và các văn bản pháp lý theo trình tự quy định của pháp luật. Như vậy, hoạt động công chứng có hai chức năng chính: thứ nhất là ngăn chặn các tranh chấp pháp lý.
Việc chuẩn bị các văn bản công chứng mang lại băng chứng rõ ràng liên quan đến các quyền lợi hợp pháp của các bên trong hợp đồng, giao dịch và giúp ngăn chặn tranh chấp pháp lý. Thứ hai là giải quyết các tranh chấp pháp lý, các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ là cơ sở để một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình. Đặc điểm của hoạt động công chứng Từ khái niệm hoạt động công chứng cho thấy hoạt động công chứng có các đặc điêm cơ bản sau: Thứ nhất, công chứng mang tính công quyền. Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức; ôn định và phát triển kinh tế xã hội.
Đặc điểm nay thé hiện ở chỗ không phải bat kỳ ai cũng có thắm quyền thực hiện việc công chứng, chỉ khi nào cá nhân được cơ quan có thâm quyền bổ nhiệm làm công chứng viên mới được thực hiện công chứng. Đặc điểm này là lý do dẫn đến giá trị pháp lý của văn bản công chứng được quy định tại Điều 5 Luật công chứng năm 2014, theo đó, hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hop đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh. Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.
Ngoài ra, công chứng không phải là một chế định mang tính chất hành chính hay mang tính chat tư pháp đơn thuần, mà là chế định bổ trợ tư pháp.