CHƯƠNG I NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG CÔNG CHUNG 1.1 Khái niệm công chứng, chức năng và mục đích của công chứng.1 Khái niệm công chứng Theo từ điên Tiêng Việt, công chứng là sự chứng thực của cơ quan nhà nước có thâm quyên nhăm xác nhận vê mặt pháp lý các văn bản và bản sao từ bản gốc. 207] Theo ngôn ngữ của một số nước như Anh, Pháp, Nga, Đức thì thuật ngữ công chứng có gốc Latine là Notarius nghĩa là viết, ghi chép, lập văn bản. Ở Việt Nam, “công chứng” được chính thức sử dụng là thuật ngữ pháp lý trong Nghị định ngày 01/10/1945 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc bổ nhiệm một công chứng viên là người Việt Nam dau tiên thay thé cho công chứng viên người Pháp tại văn phòng công chứng ở Hà Nội. 8] Lần đầu tiên ké từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), khái niệm công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các công việc Công chứng nhà nước, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nên kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi.
Do đây là văn bản pháp ly đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới nên văn ban này không thể tránh hết được các hạn chế, đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. lãi Việc xác định khái niệm công chứng là vân dé mâu chôt của hoạt động công chứng. Trong những năm qua, nhiệm vụ quản lý nhà nước có những cải cách nhât định do vậy khái niệm công chứng được nêu trong các văn bản pháp luật của nhà nước có sự khác nhau. Khái niệm công chứng đã được nêu từ Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tô chức và hoạt động Công chứng nhà nước [4, tr.33], Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động Công chứng nha nước [4, tr.62] và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực [4, tr.Viéc thé hiện cu thé nội dung thuật ngữ nay trong 3 Nghị định có sự khác nhau nhưng về cơ bản là giống nhau, thống nhất.
Một cách chung nhất, công chứng được quan niệm: “?à việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hop dong, giao dịch khác (sau đây gọi la hop dong, giao dich) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu cau công chứng” (Diéu 2, Luật Công chứng) [4, tr.156] Như vậy, trong khái niệm nêu trên về công chứng có thê thấy các nội dung quan trọng sau đây: Một là: công chứng là hành vi của công chứng viên. Điều này phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính công quyên. Hai là, tính xác thực của hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch khác là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ.
Trong pháp luật về tô tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng dé cao tính xác thực của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ pháp luật coi văn bản công chứng có giá tri chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tinh 12 tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Tính xác thực này được công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay khi nó xảy ra trong thực tẾ, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không dé lai hinh dang, dau vét vé sau (vi dụ: sự tự nguyện cua các bên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được. Ba là, tinh hợp pháp của hợp dong, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận.
Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức (công chứng hệ Anglosason). Trong công chứng hệ Latine thì các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng. Đặc điểm này của công chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong hợp đồng, giao dịch khác của công chứng.2 Chức năng của công chứng Công chứng là hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức ở trong và ngoài nước, ngăn ngừa vi phạm pháp luật va tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để đảm đương vai trò này, công chứng có một số chức năng cơ bản như sau: © Chức năng hợp pháp hóa hợp đồng, giao dịch: Như chúng ta đã biết, thông thường chỉ có các văn bản, quyết định do cơ quan nhà nước hay những người có thâm quyền ban hành mới được nhà nước đảm bảo thực hiện trong thực tẾ cuộc sống, do những văn bản đó có một giá trị pháp lý nhất định.
Tuy nhiên, đối với văn bản do các chủ thé nằm ngoài hệ thống la cơ quan nhà nước tạo lập, giao kết mà đặc biệt là những văn bản do công dân tự tạo lập thì van dé lại không đơn giản như vậy. Do những chủ thé này không phải là cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước nên những văn bản do họ tạo lập không được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực nhà nước. Do đó, giá trị pháp lý của những văn bản tự lập này, đặc biệt là những văn bản được tạo lập, giao kết giữa các cá nhân với nhau, không có. Do không có một sự ràng buộc được đảm bảo bằng sức mạnh quyền lực Nhà nước nên các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch có thé thay đổi ý chí, thỏa thuận của mình bat kỳ lúc nào và hậu quả tất yếu của điều này là quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có thể bị xâm hại.
Chính vì vậy, khi có tranh chấp xay Ta, để xác định chính xác ý chí của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng, giao dịch các cơ quan tài phán phải trải qua một quá trình xác minh, điều tra với những trình tự, thủ tục rất phức tạp để làm sang tỏ sự thật. Đặc biệt, công việc này tạo một áp lực rất lớn lên các cơ quan tài phán, do số lượng tranh chấp ngày càng nhiều, tính chất của những tranh chấp này cũng ngày càng phức tạp. Nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật hay những tranh chấp có thé xảy ra, pháp luật về công chứng của một số quốc gia trong đó có Việt Nam chúng ta quy định chức năng hợp pháp hóa hợp đồng, giao dịch nhằm tạo ra cho những hop dong, giao dịch này một giá trị pháp lý như văn bản do cơ quan công quyền ban hành. Điều này có nghĩa là những giao dịch, hợp đồng đã công chứng cũng sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước, giảm thiểu tranh chấp giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch.
Cụ thé, tại Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp, văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về công chứng, đã khang định công chứng có chức năng “hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực 14 thực hiện |4. Sau này, tuy không quy định chức năng hợp pháp hóa văn bản được xác lập giữa các cá nhân, tổ chức của công chứng, nhưng bằng việc khăng định văn bản công chứng (tức là các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng viên chứng nhận) có giá trị thi hành, chúng ta đã gián tiếp công nhận chức năng này của công chứng. Khoản 3, điều 14, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP quy định “Hop đông đã được công chứng, chứng thực có giá trị thi hành đối với các bên giao kết; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu câu cơ quan nhà nước có thẩm quyên giải quyết theo quy định cua pháp luật” [4, tr.103] va cụ thê nội dung khoản 1, điều 6, Luật Công chứng: “Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường họp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyên yêu câu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hop dong, giao dịch có thỏa thuận khác” [4, tr. Căn cứ vào quy định này, văn bản công chứng không chỉ đơn thuần có hiệu lực thi hành giữa các bên trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch mà nó có giá trị thực hiện đối với các bên có liên quan, ngay cả khi đó là những cơ quan nam trong hệ thong các cơ quan quan lý hành chính Nhà nước hay thậm chi là chính những cơ quan tư pháp hoặc bé tro tư pháp.
Điều này có nghĩa là những văn bản, hợp đồng đã được công chứng có giá trị pháp lý hơn hắn những hợp đồng, giao dịch cùng loại nhưng không được công chứng. Sở di như vậy là do những văn bản, hợp đồng đó đã được một cá nhân được Nhà nước trao cho quyền năng hợp pháp hóa, hợp thức hóa. Tính ưu việt của chức năng hợp pháp hóa văn bản, hợp đồng, giao dịch chính là giá trị pháp lý nỗi trội của những văn bản công chứng so với những văn bản, hợp đồng cùng loại nhưng không được công chứng. 15 e Chic năng tạo lập và xác nhận chứng cứ: Có thể nói đây là một trong những chức năng cơ bản nhất và lâu đời nhất của công chứng nói chung cũng như công chứng nội dung nói riêng.
Chính vì chức năng tạo lập chứng cứ là một trong những chức năng lâu đời của công chứng Việt Nam mà hiện nay hệ thống pháp luật của chúng ta, cũng như một số quốc gia khác, đang xếp công chứng là một chế định bồ trợ tư pháp tức là công chứng ra đời, tồn tại hướng đến phục vụ cho công tác tài phán mà trước hết và chủ yếu là của cơ quan Tòa án.