Luận án Tiến sĩ Luật học: Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức gây ra ở Việt Nam (Nguyễn Đỗ Kiên)

Phân tích cơ sở pháp lý và nguyên tắc bồi thường Nhà nước khi công chức thực hiện hành vi gây thiệt hại. Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2014

197
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực hiện pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước do công chức gây ra

Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước (TNBTCNN) do công chức cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) gây ra là lĩnh vực pháp luật quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Pháp luật về TNBTCNN được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại từ khi thiệt hại xảy ra cho đến khi các chủ thể hoàn thành nghĩa vụ. Theo nghĩa hẹp, đây là các quy phạm pháp luật quy định trực tiếp quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình bồi thường. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý tương đối hoàn thiện, bao gồm Hiến pháp, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, các nghị định hướng dẫn và điều ước quốc tế. Pháp luật về TNBTCNN đóng vai trò bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức trong quá trình thi hành công vụ. Nhận thức đúng đắn về nội dung, hình thức và yêu cầu của pháp luật này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả thực thi trên thực tế.

1.1. Khái niệm và cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường nhà nước

Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là nghĩa vụ pháp lý phát sinh khi công chức CQHCNN gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức trong quá trình thi hành công vụ. Cơ sở pháp lý của TNBTCNN được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Pháp luật quy định rõ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường, bao gồm: hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ, thiệt hại thực tế xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Các hình thức bồi thường bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và thu nhập thực tế bị mất.

1.2. Phạm vi điều chỉnh và chủ thể của pháp luật bồi thường nhà nước

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật TNBTCNN bao gồm các quan hệ phát sinh từ việc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ của công chức CQHCNN. Chủ thể của quan hệ bồi thường gồm hai nhóm chính: bên bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp; bên có trách nhiệm bồi thường là cơ quan nhà nước có công chức gây ra thiệt hại. Pháp luật cũng quy định rõ trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường, thời hiệu khởi kiện và phương thức chi trả bồi thường. Các quy định này đảm bảo quyền lợi cho người bị hại và tạo cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

II. Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước tại Việt Nam

Thực trạng thực hiện pháp luật TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra ở Việt Nam cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Về kết quả, hệ thống tổ chức thực hiện TNBTCNN đã được hình thành từ trung ương đến địa phương, số lượng vụ việc bồi thường được giải quyết ngày càng tăng. Các cơ quan có trách nhiệm đã từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Số lượng người bị thiệt hại chủ động yêu cầu bồi thường còn thấp so với thực tế phát sinh. Quá trình giải quyết bồi thường thường kéo dài, thủ tục phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần chưa tương xứng với tổn thất thực tế. Nguyên nhân chính bao gồm: nhận thức pháp luật của công dân còn hạn chế, năng lực đội ngũ cán bộ thực thi chưa đồng đều, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình chưa hiệu quả.

2.1. Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước

Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong thực hiện pháp luật TNBTCNN. Hệ thống văn bản pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động bồi thường. Số lượng vụ việc được giải quyết tăng qua các năm, phản ánh sự quan tâm của nhà nước đến quyền lợi người dân. Năng lực cán bộ chuyên trách được nâng cao thông qua đào tạo, tập huấn. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh, giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và quy trình yêu cầu bồi thường. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này cũng được mở rộng, tiếp thu kinh nghiệm từ các nước phát triển.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước

Bên cạnh kết quả đạt được, thực hiện pháp luật TNBTCNN còn nhiều hạn chế. Thứ nhất, nhiều người bị thiệt hại không biết hoặc không dám yêu cầu bồi thường do lo ngại thủ tục phức tạp. Thứ hai, thời gian giải quyết bồi thường thường kéo dài, gây bức xúc cho người dân. Thứ ba, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần chưa phản ánh đúng tổn thất thực tế. Nguyên nhân bao gồm: quy định pháp luật còn bất cập, thiếu đồng bộ; đội ngũ cán bộ thực thi chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế giám sát việc thực hiện chưa hiệu quả; ngân sách bố trí cho bồi thường còn hạn chế.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên các phương diện. Về hoàn thiện pháp luật, cần rà soát, sửa đổi các quy định còn bất cập, đặc biệt về tiêu chuẩn, định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần. Cần xây dựng cơ chế bồi thường nhanh chóng, minh bạch, giảm bớt thủ tục hành chính phức tạp. Về tổ chức thực hiện, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách bồi thường. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các vụ việc bồi thường để theo dõi, đánh giá hiệu quả. Về giám sát, cần phát huy vai trò của cơ quan dân cử, truyền thông và nhân dân trong việc giám sát hoạt động bồi thường. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm từ các nước có hệ thống pháp luật phát triển về TNBTCNN.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN tập trung vào ba nội dung chính. Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn bồi thường thiệt hại về tinh thần, xây dựng bảng định mức cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Hai là, đơn giản hóa thủ tục yêu cầu bồi thường, rút ngắn thời gian giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại. Ba là, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc thực hiện bồi thường, gắn trách nhiệm bồi thường với đánh giá cán bộ. Cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các nước có nền pháp luật phát triển như Đức, Pháp, Nhật Bản.

3.2. Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và giám sát

Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện là giải pháp then chốt đảm bảo hiệu quả pháp luật TNBTCNN. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn cao, am hiểu pháp luật bồi thường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi các vụ việc bồi thường. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình giải quyết bồi thường. Về giám sát, cần tăng cường vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan thanh tra. Phát huy quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Công khai, minh bạch thông tin về hoạt động bồi thường để nhân dân giám sát.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu pháp luật bồi thường nhà nước

Nghiên cứu thực hiện pháp luật TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra ở Việt Nam cho thấy hệ thống pháp luật đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và khả thi. Pháp luật về TNBTCNN không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại mà còn nâng cao trách nhiệm, kỷ luật của công chức trong thi hành công vụ. Ứng dụng của nghiên cứu thể hiện trên nhiều phương diện: cung cấp cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước; đề xuất mô hình tổ chức thực hiện hiệu quả; xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật. Nghiên cứu cũng chỉ ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực pháp luật bồi thường, bao gồm mở rộng phạm vi bồi thường, nâng cao mức bồi thường và cải cách thủ tục hành chính.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về thực hiện pháp luật TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, nội dung và hình thức pháp luật về TNBTCNN trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu cũng phân tích mối quan hệ giữa pháp luật về TNBTCNN với các lĩnh vực pháp luật liên quan như hành chính, dân sự, hình sự. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện TNBTCNN, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại.

4.2. Hướng phát triển và đề xuất cho tương lai

Phát triển pháp luật về TNBTCNN trong thời gian tới cần theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế. Đề xuất mở rộng phạm vi bồi thường thiệt hại, bao gồm cả thiệt hại do chậm trễ trong giải quyết bồi thường. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định mức bồi thường cụ thể, dễ áp dụng. Nâng cao vai trò của tòa án trong giải quyết tranh chấp bồi thường, giảm sự can thiệp hành chính. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân. Tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các nước có hệ thống pháp luật phát triển về TNBTCNN.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ luật học thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan tới thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra là một nội dung của pháp luật nói chung, pháp luật bồi thường của Nhà nước nói riêng. Do vậy, nghiên cứu về lĩnh vực này phải đặt trong mối quan hệ với tổng thể các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định của pháp luật có liên quan tới trách nhiệm bồi thường, công chức, công vụ.

Nhiều công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan tới thực hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra đã được công bố ở các mức độ và phạm vi khác nhau, điển hình gồm hai nhóm chính sau: Nhóm thứ nhất, các công trình tiêu biểu liên quan tới trách nhiệm bồi thường: - Dự án “Nghiên cứu, đánh giá vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng”, Bộ Tư pháp [14]. Dự án đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tổng quan thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường theo nội dung Nghị quyết số 388/2003/NQ- UBTVQH ngày 17 tháng 3 năm 2003 của UBTVQH, bồi thường theo nội dung Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ và BTTH ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS. Qua khảo sát, điều tra, phân tích số liệu bồi thường tại năm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phỏng vấn trực tiếp các chủ thể liên quan của các CQHCNN, cơ quan tố tụng, luật sư, người bị thiệt hại, Dự án đã phân tích làm sáng tỏ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về BTTH. Mặc dù số liệu điều tra cơ bản chỉ trong phạm vi ở năm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với đối tượng 9 khảo sát chủ yếu là những người có liên quan hoạt động tố tụng, nhưng Dự án đã khái quát được một số thực trạng của pháp luật BTTH Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2007.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Dự án, một số kiến nghị đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, thể hiện trong nội dung của Luật TNBTCNN ban hành năm 2009. Với việc thực hiện nội dung quy định của pháp luật TNBTCNN mới, những kết luận, nhận định của Dự án đã lạc hậu, không còn phù hợp và chỉ có các số liệu có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu luận án. - Sách chuyên khảo “Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra”, tác giả Lê Mai Anh [1]. Công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm, bản chất của trách nhiệm nhà nước trong việc BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.

Một số khái niệm, trình tự, thủ tục, cách thức giải quyết, thực trạng pháp luật, thực tiễn giải quyết BTTH do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đã được nêu ra. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khắc phục thiệt hại cho công dân. Tuy nhiên, cuốn sách mới phân tích BTTH với chủ thể gây ra là người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng và trong bối cảnh Việt Nam chưa ban hành Luật TNBTCNN. Công trình này chủ yếu tiếp cận vấn đề BTTH dưới góc độ pháp luật dân sự, chưa đề cập tới TNBTCNN với chủ thể gây ra thiệt hại là công chức CQHCNN.

Do vậy, cuốn sách chưa giải quyết vấn đề thực hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra, nhưng một số số liệu của công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo trong quá trình tác giả viết luận án. - Sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009”, tác giả Tiến sĩ Đinh Trung Tụng chủ biên [152]. Cuốn sách đã đề cập các quy định pháp luật về TNBTCNN nói chung và giới thiệu Luật TNBTCNN nói riêng, trong đó tập trung nêu ra sự cần thiết, mục tiêu ban hành và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật TNBTCNN dựa trên số liệu phân tích khái quát tình hình thực hiện TNBT của các cơ quan Nhà nước theo Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH. Đồng thời, công trình này đã giới thiệu khái quát pháp 10 luật một số nước trên thế giới về TNBTCNN như phạm vi, cách thức xác định, thủ tục, cơ quan giải quyết, trách nhiệm hoàn trả.

Tuy nhiên, cuốn sách mới giới thiệu dưới góc độ các quy định của pháp luật TNBTCNN Việt Nam và một số nước trên thế giới, chưa đề cập tới việc thực hiện pháp luật về lĩnh vực này trong thực tế. Do vậy, cuốn sách có giá trị cung cấp một số thông tin về pháp luật TNBTCNN tác giả có thể tham khảo trong quá trình viết luận án. - Sách chuyên khảo “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng”, tác giả Tiến sĩ Phùng Trung Tập [117]. Cuốn sách đã phân tích có hệ thống về các căn cứ phát sinh TNBT, BTTH trong những trường hợp cụ thể, phân loại TNBT và chủ thể bồi thường, những trường hợp không phải bồi thường, thời hạn hưởng BTTH do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.

Công trình nghiên cứu này đã phân tích BTTH về tài sản, sức khỏe, tính mạng của cá nhân, tổ chức dưới góc độ pháp luật dân sự, chưa đề cập sâu ở khía cạnh TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng đối với cá nhân, tổ chức trong thi hành công vụ. Do vậy, một số nội dung của công trình nghiên cứu này cũng có giá trị tham khảo đối với luận án. - Sách chuyên khảo “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, tác giả Tiến sĩ Trần Thị Huệ chủ biên [70]. Nội dung cuốn sách đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản, thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam và định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về BTTH do tài sản gây ra.

Cuốn sách cũng trình bày một số nội dung về chế định BTTH ngoài hợp đồng trong BLDS, với ý nghĩa nhằm bảo vệ tài sản của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, giáo dục mọi người nâng cao ý thức pháp luật, đồng thời sử dụng các biện pháp pháp luật một cách đầy đủ và chặt chẽ để tăng cường hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này. Cuốn sách đã đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân, tổ chức trong cộng đồng dân cư về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là công trình nghiên cứu về một loại TNDS được áp dụng cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản - những người có nghĩa vụ trong việc quản lý tài sản, khác với nội dung của TNBTCNN do 11 công chức CQHCNN gây ra. Do vậy, cuốn sách có nhiều thông tin giá trị, có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu đối với luận án.

- Sách chuyên khảo “Tìm hiểu pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, tác giả Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên [128]. Cuốn sách đã cung cấp một số thông tin, kiến thức pháp luật về TNBTCNN dưới góc độ phổ biến để cho cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức làm công tác bồi thường nói riêng nắm bắt, hiểu biết để thực hiện công việc trong thực tế. Ngoài ra, công trình nghiên cứu này đã tập trung lý giải tại sao phải xác lập chế độ TNBTNN: 1) Thiết lập cơ chế thuận lợi, khả thi để người bị thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; 2) Là cơ chế pháp lý hiệu quả ngăn ngừa lạm dụng quyền lực nhà nước, nâng cao trách nhiệm công vụ; 3) Chế định TNBTCNN đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Với mục đích trên, các tác giả đã nêu khái niệm thiệt hại và BTTH, khái niệm và đặc điểm của TNBT thiệt hại của nhà nước nói chung và đã phân tích một cách khái quát những quy định pháp luật thực định về TNBTCNN để giúp người đọc hiểu, dễ vận dụng vào thực tế cuộc sống.

Tuy nhiên, cuốn sách chưa nêu ra khái niệm TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra, pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra, thực hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra… Mặc dù chưa đề cập sâu những vấn đề này, nhưng cuốn sách cũng có nhiều nội dung có giá trị tham khảo đối với luận án. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các biện pháp bảo đảm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tịnh [27]. Công trình này đã phân tích một số nội dung về mặt lý luận và thực tiễn các biện pháp bảo đảm như xây dựng, hoàn thiện pháp luật, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, về tổ chức bộ máy, con người, kinh phí để các quy định của Luật TNBTCNN phát sinh được hiệu quả trong đời sống thực tiễn. Đề tài cũng cung cấp khá nhiều thông tin mới mang tính cập nhật, nêu ra và làm rõ một số khái niệm liên quan các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN.

Tuy nhiên, nội dung mang tính chuyên sâu liên quan tới thực hiện pháp luật về TNBTCNN do công chức CQHCNN gây ra trong công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập hoặc đã đề cập nhưng chưa được phân tích thỏa đáng. Do vậy, một số nhận định của Đề 12 tài này được tác giả thừa nhận hoặc có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho luận án. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Trách nhiệm dân sự của cơ quan tổ chức về thiệt hại do hành vi của cán bộ, công chức gây ra - vấn đề lý luận và thực tiễn”, chủ nhiệm đề tài Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn [151].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ