Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nhu cầu sử dụng động vật hoang dã (ĐVHD) và các sản phẩm từ ĐVHD cho mục đích thương mại, trưng bày, làm cảnh, nghiên cứu khoa học và dược liệu ngày càng gia tăng. Tình trạng săn bắt trái phép từ môi trường tự nhiên dẫn đến nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái. Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng, hoạt động gây nuôi sinh sản, sinh trưởng ĐVHD đã được khuyến khích phát triển tại nhiều địa phương.

Quảng Bình là tỉnh thuộc khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn với diện tích rừng tự nhiên lớn (456.536,88 ha) và có Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Hoạt động gây nuôi ĐVHD tại địa phương đã hình thành và mở rộng qua nhiều năm nhưng phần lớn mang tính tự phát, phân tán ở quy mô nông hộ, thiếu quy trình kỹ thuật chuẩn và chưa đồng bộ về thủ tục hành chính. Công tác quản lý nhà nước gặp nhiều trở ngại trong việc kiểm soát nguồn gốc con giống, giám sát dịch bệnh và cấp phép vận chuyển.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng gây nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (quy mô cơ sở, số lượng cá thể, chủng loại vật nuôi và hiệu quả bước đầu).
  2. Phân tích những thuận lợi, khó khăn và các tồn tại, bất cập trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng dựa trên hành lang pháp lý hiện hành.
  3. Phân tích vai trò và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan (Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm, chính quyền địa phương, các ban quản lý rừng, trung tâm cứu hộ).
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý và quy định điều kiện trại nuôi nhằm định hướng phát triển nghề gây nuôi bền vững, gắn với bảo tồn nguồn gen và tạo sinh kế.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động gây nuôi ĐVHD và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm địa bàn tỉnh Quảng Bình, tập trung khảo sát tại các huyện, thị xã, thành phố có cơ sở nuôi nhốt (đặc biệt là thành phố Đồng Hới và huyện Bố Trạch). Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2015–2016 và số liệu khảo sát thực địa ngoại nghiệp thực hiện từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học:

  • Khung pháp lý quốc gia: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về quản lý xuất nhập khẩu, gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định và chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý rừng; Quyết định số 95/2008/QĐ-BNN về quy chế quản lý gấu nuôi; Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT quy định quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT về hồ sơ lâm sản hợp pháp; Chỉ thị số 28/CT-CT ngày 20/11/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình; Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND tỉnh Quảng Bình về quy chế cứu hộ ĐVHD.
  • Công ước quốc tế: Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) với các Phụ lục I, II, III; Danh lục Đỏ IUCN.

Phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp báo cáo định kỳ, sổ theo dõi nhập xuất lâm sản từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, các Hạt Kiểm lâm trực thuộc, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn sâu đại diện chính quyền cơ sở, cán bộ khuyến nông, các hộ gây nuôi có kinh nghiệm; tham vấn chuyên gia lâm sinh học, cán bộ quản lý lâm sản và bảo tồn thiên nhiên. Khảo sát trực tiếp mẫu 29 cơ sở gây nuôi được cấp phép tại địa bàn thành phố Đồng Hới (20 hộ) và huyện Bố Trạch (9 hộ) trong tháng 3/2017.
  • Xử lý số liệu: Thống kê mô tả và phân tích so sánh dữ liệu ngoại nghiệp bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng sản phẩm ĐVHD và yêu cầu bảo vệ đa dạng sinh học tự nhiên tại Quảng Bình. Phần mở đầu xác định rõ mục đích, 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, phạm vi không gian, thời gian và đối tượng nghiên cứu của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Tổng quan hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế về công nghiệp hóa chăn nuôi ĐVHD: mô hình nuôi hươu tại New Zealand; nghề nuôi heo rừng thương mại tại Thái Lan từ nguồn giống tự nhiên từ trước năm 1990 (được Bộ Nông nghiệp Thái Lan công nhận năm 1996, cung ứng thịt thương phẩm với giá 125–130 Baht/kg); chương trình nuôi nhím thương mại của Cục Động vật hoang dã và Công viên quốc gia Malaysia (PERHILITAN) phối hợp các viện nghiên cứu từ năm 2005–2007 (gắn vi mạch nhận dạng cá thể).

Tại Việt Nam, cả nước có khoảng 10.000 cơ sở đăng ký với 3 triệu cá thể thuộc 70 loài (Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ chiếm 70%, Đồng bằng sông Hồng chiếm 20%). Tác giả dẫn chiếu số liệu điều tra 26 trang trại lớn của ENV (2014–2015), chỉ ra 100% cơ sở có dấu hiệu nhập lậu hoặc bổ sung cá thể săn bắt từ tự nhiên, 89% không kiểm soát giao phối cận huyết, 91% mua bán giấy tờ chứng minh nguồn gốc.

Tại Quảng Bình, tài nguyên rừng có 549.540 ha với 1.394 loài động vật ghi nhận tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và khu hệ Động Châu - Khe Nước Trong. Về công tác kiểm soát buôn bán ĐVHD, từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016, lực lượng Kiểm lâm đã xử lý 48 vụ vi phạm, tịch thu 80 cá thể (184 kg ĐVHD). Riêng năm 2016 tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã tổ chức 1.863 đợt tuần tra, tháo gỡ 1.770 sợi dây bẫy, phá hủy 49 lán trại, xử lý 172 vụ vi phạm lâm luật với số tiền xử phạt và bán tài sản tịch thu là 516 triệu đồng, tiếp nhận và cứu hộ 89 cá thể ĐVHD. Phần tổng quan cũng tóm tắt quy trình nuôi dưỡng 6 đối tượng phổ biến: Lợn rừng (Sus scrofa), Nhím (Hystrix brachyura), Dúi (Rhizomys pruinosus), Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus), Rắn và Cá sấu nước ngọt (Crocodylus siamensis).

Phần 3: Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần này mô tả cấu trúc nghiên cứu gồm 4 nội dung lớn: điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội; hiện trạng gây nuôi và kỹ thuật chăm sóc; hiện trạng công tác quản lý nhà nước cùng các bất cập pháp lý; đề xuất giải pháp. Trình bày chi tiết các phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp (phỏng vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia) và quy trình xử lý số liệu trên phần mềm bảng tính.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này cung cấp hệ thống số liệu chi tiết về điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình (diện tích tự nhiên 806.527 ha, độ che phủ rừng 66,97%, 5 hệ thống sông chính với tổng diện tích lưu vực 7.974,6 km2; dân số năm 2015 là 872.000 người với 80,42% sống ở nông thôn).

Về quy mô gây nuôi, tính đến tháng 12/2016 toàn tỉnh có 84 cơ sở được cấp giấy chứng nhận, giảm so với năm 2015 (109 cơ sở đăng ký, 85 cơ sở hoạt động). Trong đó có 12 cơ sở gây nuôi loài nguy cấp, quý hiếm với 1.243 cá thể.

Chỉ tiêu thống kê cơ sở nuôi Năm 2015 Năm 2016
Số xã có trại nuôi 57 47
Số hộ đăng ký / Số hộ đang hoạt động 109 / 85 84 / 75
Số lượng cá thể xuất bán 5.329 5.281
Số cơ sở nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm - 12 (1.243 cá thể)

Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình

Khảo sát chuyên sâu tại hai địa bàn trọng điểm tháng 3/2017:

  • Thành phố Đồng Hới: Khảo sát 20 hộ với tổng số 882 cá thể, gồm: Lợn rừng (371 con), Cầy vòi hương (90 con), Ton/nhím đuôi dài (88 con), Rắn ráo trâu (58 con), Cầy vòi mốc (48 con), Rùa ba gờ (43 con), Cá sấu nước ngọt (40 con), Nhím (28 con), Kỳ đà vân (22 con), Kỳ đà hoa (13 con), Rùa núi vàng (30 con), Rùa đất Sê pôn (25 con).
  • Huyện Bố Trạch: Khảo sát 9 hộ với tổng số 378 cá thể, tập trung nhiều ở Rắn hổ mang (174 con), Rắn ráo trâu (51 con), Lợn rừng (57 con), Cầy vòi hương (27 con), Cầy vòi mốc (28 con), Ton (29 con), Nhím (12 con).

Về thị trường, phong trào nuôi nhím sụt giảm nghiêm trọng do bão hòa nguồn cung giống, giá một cặp nhím giống từ mức 15 triệu đồng giảm mạnh xuống còn khoảng 3 triệu đồng/cặp.

Về công tác quản lý, khóa luận phân tích các kẽ hở pháp lý:

  1. Sự mâu thuẫn giữa các văn bản: Quyết định số 57/2008/QĐ-BNN cho phép kinh doanh Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata) như giống thủy sản, trong khi loài này nằm trong Danh mục Nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
  2. Quy định tại Thông tư 90/2008/TT-BNN và Nghị định 157/2013/NĐ-CP cho phép bán đấu giá tang vật ĐVHD tịch thu tạo kẽ hở hợp pháp hóa nguồn gốc động vật buôn lậu.
  3. Mức phạt tiền và hình phạt hình sự (tối đa 500 triệu đồng và 7 năm tù theo khung thời điểm nghiên cứu) ít khi áp dụng mức cao nhất do thiếu căn cứ xác định giá trị tang vật và đánh giá thiệt hại môi trường. Các loài thuộc Nhóm IIB vận chuyển số lượng lớn rất khó truy cứu trách nhiệm hình sự do thiếu hướng dẫn liên ngành.
  4. Trình tự thủ tục gồm 13 loại văn bản, biên bản thẩm định và sổ sách theo dõi, nhưng công tác hậu kiểm, kiểm tra biến động đàn hàng tháng của kiểm lâm địa bàn và sự phối hợp của thú y, tài nguyên môi trường còn lỏng lẻo.

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp:

  • Phương thức quản lý: Đánh giá thực trạng nghề nuôi toàn diện; đẩy mạnh tập huấn kỹ thuật nuôi và an toàn sinh học; nâng cao trách nhiệm thẩm định điều kiện cơ sở trước khi cấp phép; thực hiện kiểm tra định kỳ hàng tháng; có cơ chế tài chính hỗ trợ hộ nuôi tự nguyện giao nộp các loài thú lớn nguy cấp (gấu, hổ); chuẩn hóa quy định truy xuất thế hệ vật nuôi (F1, F2).
  • Quy định điều kiện trại nuôi: Chuồng trại cách ly khu dân cư, bảo đảm vệ sinh môi trường; có hàng rào kiên cố và nhân viên chuyên trách đối với động vật hung dữ/thú độc (rắn hổ mang, cá sấu).
  • Kinh tế - xã hội: Lồng ghép nghề gây nuôi vào quy hoạch kinh tế địa phương, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn nhằm giải quyết việc làm cho lao động khu vực vùng đệm, giảm áp lực săn bắt rừng tự nhiên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp 7 kết luận về điều kiện tự nhiên, quy mô nông hộ nhỏ lẻ, sự sụt giảm số lượng cơ sở sau giai đoạn sốt giá, tính hiệu quả trong việc tạo việc làm và các hạn chế trong quản lý nhà nước. Đưa ra các kiến nghị đối với người gây nuôi (chủ động con giống, thị trường, tuân thủ pháp luật) và đối với cơ quan quản lý (quy hoạch vùng nuôi, kiểm soát an toàn dịch bệnh, tập huấn kỹ thuật, thẩm định sinh thái loài nhập vùng).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác lập bức tranh toàn diện về số lượng trại nuôi tại Quảng Bình qua hai năm 2015 và 2016: số cơ sở đăng ký giảm từ 109 xuống 84 cơ sở, số cơ sở hoạt động thực tế giảm từ 85 xuống 75 cơ sở, số cá thể xuất bán giảm từ 5.329 xuống 5.281 con.
  • Kiểm kê cơ cấu đàn nuôi tại 29 cơ sở trọng điểm năm 2017: 882 cá thể tại TP. Đồng Hới (12 loài) và 378 cá thể tại huyện Bố Trạch (7 loài), phản ánh rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu vật nuôi từ nhím sang các loài bò sát và thú nhỏ (cầy vòi hương, cầy vòi mốc, rắn, dúi).
  • Nhận diện các điểm nghẽn pháp lý thực tiễn tại địa phương, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các danh mục loài được phép kinh doanh và loài cấm khai thác thương mại, cũng như khó khăn trong việc xác định giá trị tang vật để xử lý vi phạm hành chính/hình sự.

Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc liên kết giữa dữ liệu thống kê kiểm lâm với khảo sát thực tế tại hộ dân, từ đó xây dựng sơ đồ tổ chức quản lý phối hợp đa ngành và đề xuất quy trình quản lý trại nuôi gắn với điều kiện an toàn sinh học cụ thể cho tỉnh Quảng Bình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế dựa trên phạm vi nghiên cứu được nêu trong văn bản:

  • Dữ liệu khảo sát chi tiết sơ cấp mới chỉ tập trung tại 29 cơ sở trên địa bàn thành phố Đồng Hới và huyện Bố Trạch, chưa thể khảo sát chuyên sâu toàn bộ 84 cơ sở trên tất cả 8 huyện, thị xã.
  • Đề tài tập trung vào góc độ quản lý nhà nước và kỹ thuật chăn nuôi cơ bản, chưa đi sâu phân tích chuỗi giá trị thương phẩm, cấu trúc chi phí - doanh thu và thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh.

Hướng phát triển tiếp theo bao gồm việc nghiên cứu sâu hơn về dịch tễ học và an toàn sinh học đối với các cơ sở nuôi nhốt động vật rừng gần khu dân cư, đồng thời xây dựng quy trình truy xuất nguồn gốc điện tử cho vật nuôi sinh sản thế hệ F2 trở đi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp, Kinh tế nông nghiệp và Luật môi trường cần tài liệu thực tế về công tác quản lý động vật hoang dã cấp tỉnh.
  • Cán bộ ngành Kiểm lâm, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại các địa phương có điều kiện tương đồng trong việc xây dựng quy chế phối hợp liên ngành và kiểm soát hồ sơ lâm sản hợp pháp.
  • Phần phân tích các bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống dữ liệu thống kê loài nuôi tại Quảng Bình là nguồn tham khảo trực tiếp cho các nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế nông hộ vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng cơ sở và cá thể động vật hoang dã gây nuôi tại Quảng Bình biến động như thế nào trong giai đoạn 2015–2016?
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, số cơ sở đăng ký gây nuôi giảm từ 109 cơ sở (thuộc 57 xã) năm 2015 xuống 84 cơ sở (thuộc 47 xã) năm 2016. Số cơ sở thực tế hoạt động giảm từ 85 xuống 75 cơ sở. Tổng lượng cá thể xuất bán giảm nhẹ từ 5.329 con (năm 2015) xuống 5.281 con (năm 2016).

2. Tại thời điểm tháng 3/2017, cơ cấu loài và số lượng cá thể tại huyện Bố Trạch được ghi nhận ra sao?
Khảo sát tại 9 cơ sở ở Bố Trạch ghi nhận tổng cộng 378 cá thể thuộc các loài: Rắn hổ mang (174 con), Lợn rừng (57 con), Rắn ráo trâu (51 con), Ton (29 con), Cầy vòi mốc (28 con), Cầy vòi hương (27 con) và Nhím (12 con).

3. Khóa luận chỉ ra bất cập pháp lý cụ thể nào giữa các văn bản quản lý động vật hoang dã?
Tác giả nêu rõ mâu thuẫn đối với loài Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata): loài này được phép kinh doanh theo Danh mục giống thủy sản tại Quyết định 57/2008/QĐ-BNN, nhưng lại thuộc Danh mục Nhóm IB nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và thuộc diện ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.

4. Vì sao phong trào nuôi nhím tại địa phương bị suy thoái?
Phong trào nuôi nhím phát triển tự phát chạy theo thị trường con giống. Khi nguồn cung bão hòa, các cơ sở phát triển sau không tìm được đầu ra tiêu thụ, dẫn đến hiện tượng giá nhím giống sụt giảm từ 15 triệu đồng/cặp xuống còn 3 triệu đồng/cặp, khiến nhiều trại phải thu hẹp quy mô hoặc ngừng nuôi.

5. Trong năm 2016, công tác tuần tra bảo vệ rừng và cứu hộ ĐVHD tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đạt kết quả gì?
Lực lượng chức năng đã tổ chức 1.863 đợt tuần tra, tháo gỡ 1.770 sợi dây bẫy, triệt phá 49 lán trại, xử lý 172 vụ vi phạm lâm luật, thu nộp ngân sách 516 triệu đồng và tiếp nhận, chăm sóc cứu hộ 89 cá thể ĐVHD.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Diệp Thanh đã phản ánh hệ thống và trung thực thực trạng nghề gây nuôi động vật hoang dã tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015–2017. Công trình làm rõ sự suy giảm quy mô các trại nuôi tự phát sau thời kỳ sốt giá, đồng thời chỉ ra các bất cập lớn trong hành lang pháp lý và công tác phối hợp quản lý nhà nước. Các đề xuất về quy chuẩn an toàn chuồng trại, trách nhiệm kiểm lâm địa bàn và định hướng phát triển sinh kế cho cư dân vùng ven rừng là những giải pháp có tính ứng dụng thực tiễn cao đối với ngành lâm nghiệp địa phương.