Đặt vấn đề Hiện nay, các mặt hàng động vật hoang dã (ĐVHD)đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng của con người, chẳng hạn như: mục đích thương mại, trưng bày, lập vườn thú, biểu diễn xiếc, nghiên cứu khoa học và các mục đích khác…Song song với nhu cầu trên thì nguồn cung cấp đang là vấn đề quan trọng, đang được xã hội quan tâm. Từ thực trạng đó, việc săn bắt động vật hoang dã từ rừng tự nhiên là vấn đề bức xúc, khiến các nhà quản lý phải ngày đêm trăn trở. Săn bắt động vật hoang dã trái phép làm giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái. Để đáp ứng nhu cầu xã hội về ĐVHD và các sản phẩm của chúng, các doanh nghiệp và các hộ gia đình đã đầu tư, phát triển gây nuôi các loài ĐVHD phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người nhằm giảm thiểu tình trạng săn bắt, bẫy và sử dụng các loài động vật hoang dã trong tự nhiên.
Quảng Bình là một trong những tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú; đặc biệt là đa dạng về các loài động thực vật có nguồn gốc từ rừng.Thời gian qua nạn săn bắt, mua bán, vật chuyển động vật rừng trái phép trên địa bàn xảy ra nhiều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã phát hiện, xử lý kịp thời nhiều vụ mua bán, vận chuyển có tính hệ thống, liên tỉnh với khối lượng lớn động vật rừng hoang dã.Việc gây nuôi sinh sản các loài động vật có nguồn gốc từ rừng đang được Nhà nước khuyến khích. Một số địa phương đã hình thành trang trại gây nuôi các loài ĐVHD như:heo rừng, nhím, đà điểu, trăn, cá sấu, kỳ đà.Nhiều mô hình đã thành công và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, quản lý hoạt động nuôi nhốt động vật rừng rất phức tạp do chưa có quy trình quản lý hoạt động hoặc rất khó xác định nguồn gốc hợp pháp đối với các loài động vật nuôi nhốt. Trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, hoạt động gây nuôi ĐVHD đã được các doanh nghiệp và các hộ dân phát triển từ những năm trước đây.Tuy nhiên, hoạt động gây nuôi còn mang tính tự phát, sơ khai và nhỏ lẽ, chưa được hướng dẫn về trình tự thủ tục cũng như kỹ thuật gây nuôi.Vì vậy, việc gây nuôi ĐVHD chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, đồng thời công tác quản lý gây nuôi ĐVHD gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Đến nay, quy mô gây nuôi đã được nhân lên và được mở rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Ngoài ra, điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Bình thuận lợi cho việc gây nuôi một số loài động vật hoang dã như: nhím, lợn rừng, kỳ đà vân, chồn, baba, rùa, rắn, cầy vòi hương.Để hoạt động gây nuôi ĐVHD được phát triển, nhân rộng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý hoạt động gây nuôi ĐVHD các ban ngành chức năng cũng như Khoá luận tốt nghiệp Kinh tế các nhà khoa học cần nghiên cứu tạo một hành lang pháp lý, những hướng dẫn quy trình về thủ tục gây nuôi và kỹ thuật gây nuôi các loài ĐVHD. Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp quản lý đối với việc gây nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” là rất cần thiết, giúp chúng ta định hướng đề xuất các giải pháp quản lý ĐVHD có hiệu quả, nhằm quản lý tốt và thúc đẩy hoạt động gây nuôi các loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh theo hướng bền vững, tạo điều kiện cho các hộ dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, giảm áp lực săn bắt từ rừng tự nhiên.2 Mục tiêu của đề tài: Đánh giá thực trạng gây nuôi các loài động vật hoang dã ở địa bàn tỉnh; phân tích những thuận lợi, khó khăn, các vấn đề còn bất cập trong quản lý hoạt động gây nuôi; phân tích vai trò của các bên liên quan và trên cơ sở hành lang pháp lý đối với hoạt động gây nuôi ĐVHD để đề xuất các giải pháp, cho việc gây nuôi các loài ĐVHD trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.3Yêu cầu của đề tài: Thu thập số liệu đầy đủ để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động gây nuôi các loài ĐVHD trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; làm rõ các thuận lợi, khó khăn và các vấn đề còn bất cập trong hoạt động quản lý gây nuôi các loài ĐVHD và đi đến đề xuất các giải pháp cho việc quản lý có hiệu quả. Khoá luận tốt nghiệp Kinh tế Phần 2.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tình hình gây nuôi ĐVHD trên thế giới Trên thế giới gây nuôi ĐVHD và quản lý gây nuôi ĐVHD đã hình thành từ rất sớm, có thể nói tại nhiều nước việc chăn nuôi ĐVHD đã trở thành nghành công nghiệp, kéo theo đó là nghành chế biến và xuất khẩu các sản phẩm của chúng. Thành tựu nuôi hươu ở New Zealand và ứng dụng mô hình này để phát triển trong khu vực chây Á- Thái Bình Dương như Thái Lan. Không chỉ ở New Zealand mà còn ở Australia, Trung Quốc một số nước châu Âu, Hoa Kỳ khi số lượng các sản phẩm từ hươu được trao đổi mua bán trên thị trường thế giới, cạnh tranh giữa các trang trại ngày càng trở nên gay gắt, điều đó đòi hỏi phải chú ý đến việc quản lý.
Một số cách quản lý hiện nay nhằm thúc đẩy việc liên doanh nuôi Hươu thành công [12]. Trước năm 1990, Thái Lan là nước đã hình thành nghề nuôi Heo rừng từ nguồn Heo rừng thiên nhiên. Việc thuần hóa Heo rừng cũng bắt đầu từ những người nông dân ở vùng gần biên giới Thái Lan – Miến Điện. Đến năm 1996, Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã chính thức công nhận nghề nuôi Heo rừng và phổ biến rộng rãi quy trình nuôi loài động vật này.
Và khoảng 10 năm sau đó, nghề nuôi Heo rừng đã phổ biến khắp nơi ở Thái Lan và tạo thêm nguồn cung ứng đạm từ động vật với lượng mỡ ít và giá thành tương đối rẻ (125 ÷ 130 Baht/kg) (tương đương 50 ÷ 60 nghìn đồng Việt Nam). Có nhiều trang trại hiện đang gây nuôi Heo rừng ở nước này, điển hình là các trang trại quy mô lớn như: trang trại Bán Bưng (tỉnh Buri – Đông Bắc Thái Lan), trại Nunthaphisan (200 con), trại Iter (huyện Châu Athanh, tỉnh Nakhon Pa Thổm), trại Heo rừng Bò Thong (huyện Bò Thong), trai Lăm Diên,… ngoài ra Cục Kiểm lâm cũng xây dựng trại Heo rừng để nhân giống heo cho dân. Tại Malaysia, đến năm 2007, Nhím Đuôi ngắn được Sở Động vật hoang dã và Công viên quốc gia (PERHILITAN) (Department of Wildlife and National Parks) của nước này thành lập sự án 5 mô hình trang trại gây nuôi nhím. Dự án này cũng được tài trợ từ Viện công nghệ sinh học nông nghiệp Malaysia, cùng với sự tham gia nghiên cứu của trường đại học Putra, Kebangsaan và Mardi của Malaysia nhằm quản lý và nâng cao năng suất, dinh dưỡng.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thịt nhím có lượng protein tương đương với thịt bò và thịt cừu nhưng lượng chất béo thấp hơn.Các loại acid amin có vai trò quan trọng trong việc chữa lành vết thương và các loại acid béo khác.[13] Cũng tại Malaysia, Perhilitan đã có 2 dự án chăn nuôi nhím thương mại hợp tác với người dân, một dự án bắt đầu từ năm 2005 tại Negeri Sembiann với 20 đực Khoá luận tốt nghiệp Kinh tế và 30 con cái, một dự án khác bắt ñầu từ năm 2006 tại Bangting, Selangor với 32 cá thể, tất cả các cá thể nhím ñược cấy ghép các vi mạch với mục đích nhận dạng, cán bộ thú y cung cấp các dịch vụ tư vấn và theo dõi. Mục đích dự án là đảm bảo số lượng lớn nhím bị giam cầm có thể đạt được thông qua hệ thống chăn nuôi và ứng dụng các công nghệ sinh học mới nhất.[6] Như vậy, có thể thấy việc gây nuôi ĐVHD ở nhiều nước trên thế giới đã phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu sử dụng cũng như xuất khẩu sản phẩm một cách rộng rãi.Việc liên doanh cũng đã được chú ý trong gây nuôi đối với một số loài cho sản phẩm có tính cạnh tranh, nhằm hướng đến phát triển gây nuôi bền vững và phát triển mở rộng thị trường. Việc áp dụng công nghệ nhằm quản lý và giám sát gây nuôi đối với các loài cũng đã được chú trọng. Tất cả những thành quả đó rất đáng để chúng ta có thể tham khảo và áp dụng một cách phù hợp cho phát triển gây nuôi ĐVHD ở Việt Nam.2 Tình hình gây nuôi các loài ĐVHD trong nước Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, đến nay đã có khoảng 10.000 cơ sở nuôi động vật hoang dã đăng ký với cơ quan chức năng ở cả 63 tỉnh, thành phố với khoảng 3 triệu con thuộc 70 loài đang được nuôi, trong đó có 4 loài chính là trăn, cá sấu, khỉ đuôi dài và rắn các loại.
Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là hai khu vực nuôi động vật hoang dã lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 70%; tiếp theo là đồng bằng Sông Hồng chiếm 20%. Nhìn vào con số trên, nhiều chuyên gia bảo tồn động vật hoang dã lo ngại, cho rằng Nhà nước không nên cho phép gây nuôi động vật hoang dã nhiều như vậy bởi nếu “mở cửa” cho các hoạt động này thì chắc chắn số lượng các loài động vật hoang dã sẽ dần bị suy giảm trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Theo kết quả điều tra “ Gây nuôi thương mại các loài ĐVHD tại Việt Nam” của ENV, trong thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 7/2015 tại 26 trang trại quy mô lớn đã đi đến kết luận rằng gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD gây ảnh hưởng đến quần thể chính các loài này trong tự nhiên và làm gia tăng mối đe dọa về nguy cơ tuyệt chủng của chúng tại Việt Nam. Kết quả cho thấy 100% cơ sở có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở những mức độ khác nhau, 100% các cơ sở cho biết thường xuyên bổ sung các cá thể săn bắt từ tự nhiên, 89% các cơ sở cho biết không áp dụng bất kì biện pháp nào để ngăn chặn việc giao phối cận huyết, 91% các cơ sở cho biết có mua giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của ĐVHD từ các cơ sở khác hoặc trực tiếp từ cán bộ kiểm lâm.[6] Giám đốc Trung tâm giáo dục thiên nhiên Vũ Thị Quyên cho biết, vấn đề săn bắn, buôn bán động vật hoang dã ở Việt Nam đã trở nên nhức nhối trong hơn Khoá luận tốt nghiệp Kinh tế thập kỷ qua.