Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam cũng như trên thế giới, chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng với tỷ trọng lớn, đồng thời cung cấp phân bón cho trồng trọt và nguyên liệu phụ phẩm cho công nghiệp. Nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, xu hướng chuyển đổi từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại quy mô vừa và lớn diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại tỉnh Thái Nguyên với các chính sách hỗ trợ vốn giống và kỹ thuật. Tuy nhiên, quá trình phát triển đàn lợn ngoại và lợn lai năng suất cao đang gặp nhiều trở ngại lớn do các hội chứng bệnh sản khoa, trong đó bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những bệnh lý phổ biến và nghiêm trọng nhất. Bệnh không chỉ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tăng nguy cơ chết thai, lưu thai mà còn có thể dẫn đến mất hoàn toàn khả năng sinh sản, làm gián đoạn vòng quay lứa đẻ và gây thiệt hại kinh tế trực tiếp cho các cơ sở sản xuất con giống. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại Trại giống lợn Tân Thái (thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên), tác giả Nguyễn Thị Hương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư chuyên ngành Thú y nhằm khảo sát mức độ thiệt hại và thử nghiệm giải pháp điều trị hiệu quả.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Xác định được ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến sức sản xuất của đàn lợn nái sinh sản tại cơ sở chăn nuôi.
  2. Đánh giá hiệu quả điều trị của 2 phác đồ sử dụng kháng sinh kết hợp hộ lý sản khoa đối với các thể bệnh viêm tử cung trên lợn nái.

Để hoàn thành hai mục tiêu nêu trên, các nhiệm vụ và chỉ tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Điều tra cơ cấu đàn lợn nái và tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung qua 3 năm (2011 - 2013).
  • Đánh giá tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung theo các thể lâm sàng (thể nhẹ, thể trung bình, thể nặng).
  • Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh theo các yếu tố sinh học và môi trường: lứa đẻ, mùa vụ, giống/dòng lợn nái, thời điểm xuất hiện bệnh (sau khi đẻ và sau khi phối), và theo hai hình thức đẻ (đẻ tự nhiên và can thiệp đỡ đẻ).
  • Đánh giá ảnh hưởng của bệnh đến số con sơ sinh/lứa và tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ.
  • Thử nghiệm lâm sàng và so sánh hiệu quả của 2 phác đồ điều trị về thời gian khỏi bệnh, tỷ lệ khỏi và sự phục hồi các chỉ tiêu sinh lý sinh sản sau điều trị.

Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái sinh sản gồm 153 cá thể thuộc 5 nhóm giống và dòng: giống thuần Landrace (22 con), Yorkshire (19 con), Duroc (2 con), cùng hai dòng nái ông bà thương phẩm GP C1050 (57 con) và GP C1230 (53 con).

Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại Trại giống lợn Tân Thái, đóng trên địa bàn xóm Tân Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm và theo dõi lâm sàng trực tiếp được triển khai từ tháng 06/2013 đến ngày 30/10/2013, kết hợp với việc thu thập hồi cứu số liệu sản xuất và dịch tễ từ sổ sách quản lý của trại trong giai đoạn 2008 - 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở khoa học dựa trên các nguyên lý giải phẫu, sinh lý sinh dục gia súc và bệnh học truyền nhiễm thú y:

  • Đặc điểm giải phẫu và sinh lý đường sinh dục lợn nái: Cơ quan sinh dục cái gồm phần bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và phần bên trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng). Tử cung lợn thuộc dạng phân nhánh (Uterus bicornis), gồm cổ tử cung dài tròn không nếp gấp, thân tử cung ngắn và hai sừng tử cung rất dài. Thành tử cung cấu tạo bởi ba lớp: thanh mạc liên kết ngoài, tầng cơ trơn khỏe đan xen mạch máu lớn, và lớp niêm mạc trong cùng chứa nhiều tuyến tiết chất nhầy. Chu kỳ động dục của lợn trung bình là 21 ngày (dao động 18 - 22 ngày), trải qua 4 giai đoạn chức năng: trước động dục (1 - 2 ngày), động dục (2 - 3 ngày, trứng rụng sau 20 giờ kể từ khi bắt đầu hưng phấn), sau động dục (3 - 4 ngày), và giai đoạn yên tĩnh kéo dài cho đến chu kỳ tiếp theo hoặc chuyển sang thời kỳ mang thai.
  • Căn nguyên vi sinh vật gây bệnh: Quá trình viêm nhiễm xuất hiện do sự suy giảm miễn dịch hoặc tổn thương cơ giới tạo điều kiện cho vi khuẩn cơ hội và vi khuẩn môi trường xâm nhập khi cổ tử cung mở ra lúc đẻ hoặc lúc thụ tinh. Các tác nhân vi khuẩn chủ yếu gồm: Staphylococcus sp. (cầu khuẩn Gram dương hình chùm nho, tiết enzyme Coagulase làm đông huyết tương, Fibrinolysin, Hyaluronidase và độc tố dung huyết α, β, δ); Streptococcus (liên cầu khuẩn Gram dương dạng chuỗi); Escherichia coli (trực khuẩn Gram âm thuộc họ Enterobacteriaceae, có khả năng di động, sinh Indol, gây dung huyết kiểu α và β); và Klebsiella (trực khuẩn Gram âm yếm khí tùy tiện có bao nang).
  • Phân loại thể bệnh lâm sàng: Dựa trên mức độ tổn thương thực thể, bệnh viêm tử cung được phân chia thành ba thể:
    • Viêm nội mạc tử cung (thể nhẹ): Bao gồm thể cata cấp tính có mủ và thể màng giả, tổn thương khu trú ở niêm mạc, dịch rỉ viêm màu trắng xám hoặc hồng nhạt, sốt nhẹ (38,5 - 39,5°C).
    • Viêm cơ tử cung (thể trung bình): Tổn thương ăn sâu vào lớp cơ trơn, con vật sốt 39,5 - 40,5°C, rặn liên tục, dịch viêm lẫn máu và mủ lợn cợn mảnh hoại tử mùi tanh thối.
    • Viêm tương mạc tử cung (thể nặng): Quá trình viêm lan đến thanh mạc và phúc mạc, thân nhiệt tăng vọt 40,5 - 41,5°C, dịch rỉ màu nâu rỉ sắt hôi thối khắm, nguy cơ dính sừng tử cung với bàng quang và trực tràng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai theo các quy chuẩn thực hành lâm sàng thú y:

  • Phương pháp điều tra hồi cứu: Thu thập số liệu quản lý giống, hồ sơ phối giống, sổ theo dõi lợn đẻ và nhật ký thú y của trại qua các năm 2011, 2012 và 2013 để thống kê biến động quy mô đàn và tần suất phát sinh bệnh.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng và khám thực thể: Trực tiếp kiểm tra 153 lợn nái; đo thân nhiệt qua trực tràng; quan sát phản xạ cong lưng, rặn mót; sử dụng dụng cụ mỏ vịt vô trùng kết hợp đèn pin y tế mở rộng xoang âm đạo nhằm quan sát trực tiếp mức độ mở của cổ tử cung, trạng thái niêm mạc và tính chất dịch viêm chảy ra.
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị:
    • Đối với thể nhẹ: Tiến hành điều trị cục bộ bằng dung dịch sát trùng thụt rửa đường sinh dục. Dung dịch sử dụng là HanIodine 10% pha loãng theo tỷ lệ 10 ml trong 1.000 ml nước đun sôi để nguội, thụt rửa 2 lít dung dịch/nái/ngày.
    • Đối với thể trung bình và thể nặng: Áp dụng phác đồ toàn thân kết hợp cục bộ, so sánh đối chứng giữa hai loại kháng sinh:
      • Biện pháp bổ trợ chung cho cả 2 phác đồ: Dùng thuốc hạ sốt Analgin C (tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày); thuốc trợ sức trợ lực Multivit-forte (tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày); thuốc tăng co bóp tống sản dịch Oxytocin (tiêm bắp liều 20 - 40 UI/nái/ngày).
      • Phác đồ 1 (PĐ 1): Kháng sinh Nova - D.T tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày.
      • Phác đồ 2 (PĐ 2): Kháng sinh Amoxisol LA tiêm bắp liều 1 ml/20 kg thể trọng/ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê sinh học để tính tỷ lệ mắc (%), tỷ lệ khỏi (%), thời gian điều trị bình quân (ngày/con) và sai số của số trung bình ($m_x$) theo độ lệch chuẩn ($S_x$) và dung lượng mẫu ($n$).

Nguồn dữ liệu của công trình là số liệu ghi chép gốc từ hệ thống sổ sách của Trại giống lợn Tân Thái và các bảng theo dõi cá thể do chính tác giả thực hiện trong 6 tháng thực tập.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Nội dung phần này phản ánh việc tham gia trực tiếp vào các quy trình chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh tại Trại giống lợn Tân Thái:

  • Điều tra cơ bản về cơ sở thực tập: Trại có tổng diện tích 50.198 m2, trong đó khu chuồng nuôi chiếm 1.800 m2 xây theo kiểu hai mái thoáng mát, phân chia thành các ô chuồng lồng cho nái chửa và sàn nhựa cho nái đẻ, lợn con. Nguồn nước sử dụng là nước giếng khoan qua bể lọc lớn.
  • Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc: Áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chuyên biệt cho nái chửa theo hai kỳ: kỳ 1 (1 - 84 ngày, hàm lượng protein 13%, năng lượng trao đổi 2.800 kcal/kg nhằm duy trì cơ thể) và kỳ 2 (85 ngày đến khi đẻ, protein 15%, năng lượng 3.500 kcal/kg để nuôi thai). Đối với nái nuôi con, sử dụng thức ăn tinh hỗn hợp Cargill mã số 1052 (đạm thô ≥ 15%, xơ ≤ 6%, năng lượng ≥ 3.000 kcal/kg, Chlortetracycline tối đa 200 mg/kg), khẩu phần ăn tăng dần từ ngày đẻ và từ ngày thứ 7 áp dụng công thức: Thức ăn (kg/nái/ngày) = 2 + (0,3 × số lợn con theo mẹ).
  • Quy trình tiêm phòng vắc-xin: Thực hiện nghiêm ngặt cho từng đối tượng lợn tại trại, bao gồm lợn con (vắc-xin suyễn lợn, dịch tả lợn, lở mồm long móng, tụ dấu, giả dại), lợn hậu bị, lợn nái mang thai (tiêm dịch tả, E. coli vào tuần thứ 5 và thứ 2 trước đẻ, lở mồm long móng vào tuần thứ 4, giả dại vào tuần thứ 3 trước đẻ) và lợn đực giống (tiêm định kỳ 6 tháng/lần).
  • Kết quả công tác chẩn đoán, điều trị bệnh và kỹ thuật phụ trợ: Tác giả đã tham gia tiêm phòng dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn cho 113 con và lở mồm long móng cho 114 con đạt tỷ lệ bảo hộ an toàn 100%. Tham gia chẩn đoán và điều trị bệnh phân trắng lợn con (khỏi 164/175 con, tỷ lệ 93,71%), bệnh suyễn lợn (khỏi 21/25 con, tỷ lệ 84,00%), bệnh ghẻ do ký sinh trùng Sarcoptes scabiei (khỏi 40/40 con, tỷ lệ 100%), viêm khớp (khỏi 7/9 con, tỷ lệ 77,78%), và viêm tử cung phục vụ sản xuất (khỏi 51/53 con, tỷ lệ 96,23%). Ngoài ra, thực hiện thao tác kỹ thuật an toàn tuyệt đối trên 130 lợn con tiêm sắt, đỡ đẻ cho 13 lợn nái và phẫu thuật thiến 36 lợn đực con.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề đi sâu phân tích tình hình dịch tễ, mức độ ảnh hưởng và kết quả thử nghiệm can thiệp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn nái:

  • Điều tra cơ cấu đàn lợn nái qua các năm (2011 - 2013): Tổng đàn nái có sự sụt giảm nhẹ từ 164 con (2011) xuống 159 con (2012) và 153 con (2013) do chính sách loại thải nái già và thiếu hụt diện tích chuồng. Cơ cấu giống cho thấy hai dòng nái ông bà GP C1050 (chiếm 37,25% - 39,02%) và GP C1230 (chiếm 33,96% - 34,64%) chiếm tỷ trọng chủ lực, trong khi các giống thuần chiếm tỷ lệ thấp hơn: Landrace (12,20% - 14,38%), Yorkshire (12,42% - 13,41%) và Duroc (1,22% - 1,31%).
  • Tình hình lưu hành bệnh viêm tử cung giai đoạn 2011 - 2013: Tỷ lệ nái mắc bệnh duy trì ở mức cao qua 3 năm khảo sát: năm 2011 đạt 37,80% (62/164 con); năm 2012 đạt 35,85% (57/159 con); và năm 2013 đạt 34,64% (53/153 con). Tác giả chỉ ra nguyên nhân do khí hậu nóng ẩm vùng trung du tạo thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, kết hợp trang thiết bị chuồng trại qua nhiều năm sử dụng chưa được nâng cấp đồng bộ.
  • Phân loại mức độ và cường độ viêm nhiễm năm 2013: Trong số 53 nái mắc bệnh, thể nhẹ (viêm nội mạc tử cung) chiếm tỷ lệ áp đảo với 77,36% (41 con); thể trung bình (viêm cơ tử cung) chiếm 15,09% (8 con); và thể nặng (viêm tương mạc tử cung) chiếm tỷ lệ thấp nhất với 7,55% (4 con) nhờ phát hiện và can thiệp kịp thời.
  • Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Sự phân bố bệnh lý thể hiện rõ mối tương quan với số lứa đẻ của lợn nái. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ghi nhận ở nhóm nái già đẻ trên 6 lứa (45,16%, 14/31 con) và nhóm nái tơ đẻ lứa 1 - 2 (38,10%, 16/42 con); trong khi nhóm lứa 3 - 4 có tỷ lệ mắc thấp nhất (25,00%, 11/44 con) và lứa 5 - 6 ở mức trung bình (33,33%, 12/36 con). Về mức độ bệnh, nhóm nái già trên 6 lứa có tỷ lệ chuyển biến thành thể nặng cao nhất (14,29%), trái ngược với nhóm nái lứa 1 - 2 chủ yếu dừng lại ở thể nhẹ (81,25%).

Kết quả và đóng góp

Các số liệu nghiên cứu cốt lõi được tổng hợp chi tiết qua các bảng thống kê dưới đây:

Bảng 1: Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp tại trại (Công tác phục vụ sản xuất)

Tên bệnh lý Số con điều trị (con) Số con khỏi bệnh (con) Tỷ lệ khỏi (%)
Phân trắng lợn con 175 164 93,71
Suyễn lợn 25 21 84,00
Bệnh ghẻ lợn 40 40 100,00
Viêm tử cung 53 51 96,23
Viêm khớp 9 7 77,78

Bảng 2: Cơ cấu đàn lợn nái sinh sản tại Trại giống lợn Tân Thái giai đoạn 2011 - 2013

STT Giống / Dòng lợn Năm 2011 (con) Tỷ lệ (%) Năm 2012 (con) Tỷ lệ (%) Năm 2013 (con) Tỷ lệ (%)
1 Landrace 20 12,20 22 13,84 22 14,38
2 Yorkshire 22 13,41 20 12,58 19 12,42
3 Duroc 2 1,22 2 1,25 2 1,31
4 GP C1050 64 39,02 61 38,36 57 37,25
5 GP C1230 56 34,15 54 33,96 53 34,64
Tổng Tính chung 164 100,00 159 100,00 153 100,00

Bảng 3: Tỷ lệ và mức độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ (năm 2013)

Nhóm lứa đẻ Số nái kiểm tra (con) Số nái mắc (con) Tỷ lệ mắc (%) Thể nhẹ: Số con (%) Thể trung bình: Số con (%) Thể nặng: Số con (%)
Lứa 1 - 2 42 16 38,10 13 (81,25) 2 (12,50) 1 (6,25)
Lứa 3 - 4 44 11 25,00 10 (90,91) 1 (9,09) 0 (0,00)
Lứa 5 - 6 36 12 33,33 9 (75,00) 2 (16,67) 1 (8,33)
Lứa > 6 31 14 45,16 9 (64,29) 3 (21,43) 2 (14,29)
Tính chung 153 53 34,64 41 (77,36) 8 (15,09) 4 (7,55)

Dựa trên các phát hiện thực tế, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật phòng và trị bệnh:

  • Về phòng bệnh: Thực hiện vệ sinh chuồng nái đẻ trước khi chuyển nái vào 1 tuần bằng cách quét vôi bột hoặc nước vôi 20%, rửa sạch bằng nước thường; tắm rửa cho lợn mẹ trước khi sinh, dùng cồn và dung dịch HanIodine vệ sinh vùng âm hộ, bầu vú. Trong thao tác can thiệp đỡ đẻ hoặc thụ tinh nhân tạo, bắt buộc vô trùng dụng cụ và tay dẫn tinh viên (xoa vaseline bôi trơn, thao tác nhẹ nhàng tránh làm rách niêm mạc). Sau khi đẻ, chủ động bơm thụt rửa tử cung bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím KMnO4 0,1% hoặc nước muối sinh lý 0,9%, kết hợp đặt thuốc kháng sinh dự phòng.
  • Về điều trị: Phân loại chính xác thể bệnh lâm sàng để can thiệp kịp thời. Đối với thể nhẹ, áp dụng thụt rửa sát trùng bằng HanIodine 10% (10 ml/lít nước). Đối với thể trung bình và nặng, kết hợp tiêm Oxytocin (20 - 40 UI/con) nhằm tống sạch dịch viêm và mủ hoại tử ra ngoài, bổ sung thuốc hạ sốt Analgin C, trợ lực Multivit-forte và điều trị kháng sinh toàn thân liên tục 3 - 5 ngày.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, công trình đã xác lập bộ dữ liệu thực địa có độ tin cậy về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên các tổ hợp dòng lợn ngoại nhập nội (đặc biệt là dòng ông bà GP C1050 và GP C1230 của PIC) tại vùng trung du Thái Nguyên. Dữ liệu này chứng minh tính quy luật về sự biến động bệnh lý theo lứa đẻ, giúp cơ sở chăn nuôi xác định nhóm đối tượng có nguy cơ cao (nái tơ lứa đầu và nái già trên 6 lứa) để có biện pháp quản trị dự phòng chuyên biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế của một nghiên cứu tốt nghiệp đại học:

  • Thời gian nghiên cứu thực nghiệm gói gọn trong 6 tháng (06/2013 - 10/2013), chưa đủ dài để theo dõi trọn vẹn sức sản xuất và chỉ tiêu sinh sản của lợn nái sau điều trị qua nhiều lứa đẻ kế tiếp.
  • Do điều kiện trang thiết bị thú y của trại còn thiếu thốn và chưa đồng bộ, nghiên cứu chưa tiến hành phân lập, định danh chính xác các loài vi khuẩn gây bệnh từ dịch rỉ viêm tử cung của từng ca bệnh và chưa thực hiện kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm để xác định mức độ nhạy cảm và đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.
  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một cơ sở chăn nuôi tập trung duy nhất (Trại giống lợn Tân Thái), chưa mở rộng so sánh với các hình thức chăn nuôi gia trại hoặc trang trại quy mô tư nhân trên cùng địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:

  • Triển khai lấy mẫu dịch viêm tử cung vô trùng để nuôi cấy phân lập, định danh vi khuẩn gây bệnh (Staphylococcus, Streptococcus, E. coli, Klebsiella) và thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ.
  • Theo dõi dài hạn các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị khỏi ở các lứa kế tiếp, bao gồm: khoảng cách từ cai sữa đến khi động dục trở lại, tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu, số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh bình quân.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng trong ngành chăn nuôi và thú y:

  • Đối với sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Là tài liệu tham khảo cụ thể về phương pháp tiếp cận điều tra dịch tễ lâm sàng, kỹ thuật khám sản khoa gia súc lớn bằng mỏ vịt, và cách thức xây dựng báo cáo chuyên đề kết hợp công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở.
  • Đối với bác sĩ thú y, kỹ thuật viên trại lợn và người chăn nuôi lợn nái sinh sản: Cung cấp quy trình định lượng thức ăn chi tiết cho lợn nái nuôi con bằng cám Cargill 1052, lịch tiêm phòng vắc-xin tổng thể cho các nhóm đàn, và phác đồ sử dụng thuốc thú y (kết hợp Oxytocin, thuốc hạ sốt, Multivit-forte và kháng sinh Amoxisol LA/Nova - D.T) có thể áp dụng ngay vào thực tế sản xuất.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là tiêu chí phân biệt 3 thể bệnh viêm tử cung dựa trên triệu chứng lâm sàng (nhiệt độ sốt, màu sắc và mùi dịch rỉ viêm, mức độ đau đớn khi thăm khám) và phương pháp thụt rửa an toàn bằng HanIodine 10%.

Câu hỏi thường gặp

Khẩu phần thức ăn cho lợn nái nuôi con tại Trại giống lợn Tân Thái được xác định như thế nào? Tại trại, lợn nái nuôi con được cho ăn cám tinh hỗn hợp Cargill 1052. Chế độ ăn tăng dần sau khi đẻ: ngày đẻ cho ăn 0,5 kg thức ăn tinh hoặc nhịn ăn uống nước điện giải tự do; ngày thứ 1 cho ăn 1 kg; ngày thứ 2 cho ăn 2 kg; ngày thứ 3 cho ăn 3 kg; ngày thứ 4 cho ăn 4 kg. Từ ngày thứ 7 đến khi cai sữa, lượng thức ăn hàng ngày được tính bằng công thức: Thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (0,3 × số lợn con theo mẹ).

Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn nái tại trại qua các năm 2011 - 2013 biến động ra sao? Theo số liệu điều tra hồi cứu của trại, tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng giảm nhẹ qua các năm nhưng vẫn ở mức cao: năm 2011 có 62/164 nái mắc bệnh (tỷ lệ 37,80%); năm 2012 có 57/159 nái mắc bệnh (tỷ lệ 35,85%); và năm 2013 có 53/153 nái mắc bệnh (tỷ lệ 34,64%).

Nhóm lứa đẻ nào có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao nhất và đặc điểm thể bệnh ở nhóm đó là gì? Nái đẻ trên 6 lứa có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 45,16% (14/31 con mắc bệnh). Đặc biệt, nhóm này có tỷ lệ mắc thể nặng (viêm tương mạc) cao nhất trong các nhóm lứa đẻ (chiếm 14,29% số ca mắc), do cơ tử cung nhão, tính đàn hồi kém và niêm mạc bị thoái hóa sau nhiều lần sinh sản.

Phác đồ điều trị viêm tử cung thể trung bình và thể nặng trong nghiên cứu sử dụng những loại thuốc nào? Hai phác đồ được thiết lập với thành phần bổ trợ chung gồm: hạ sốt bằng Analgin C (1 ml/10 kg thể trọng/ngày), trợ lực bằng Multivit-forte (1 ml/10 kg thể trọng/ngày), kích thích co bóp cơ tử cung bằng Oxytocin (20 - 40 UI/nái/ngày). Điểm khác biệt là loại kháng sinh thử nghiệm: Phác đồ 1 sử dụng kháng sinh Nova - D.T (1 ml/10 kg thể trọng/ngày), trong khi Phác đồ 2 sử dụng kháng sinh tác dụng kéo dài Amoxisol LA (1 ml/20 kg thể trọng/ngày).

Trong công tác phục vụ sản xuất, tác giả đã điều trị những bệnh nào và tỷ lệ khỏi bệnh cụ thể ra sao? Tác giả đã tham gia điều trị 5 loại bệnh thường gặp: bệnh phân trắng lợn con đạt tỷ lệ khỏi 93,71% (164/175 con); bệnh suyễn lợn đạt 84,00% (21/25 con); bệnh ghẻ lợn đạt 100% (40/40 con); bệnh viêm tử cung đạt 96,23% (51/53 con); và bệnh viêm khớp đạt 77,78% (7/9 con).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hương đã phản ánh đầy đủ quy trình chăn nuôi thú y thực địa và khảo sát toàn diện thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại Trại giống lợn Tân Thái với tỷ lệ mắc bệnh năm 2013 là 34,64%. Công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ dịch tễ giữa lứa đẻ và mức độ viêm nhiễm, chỉ ra nhóm nái tơ và nái đẻ trên 6 lứa là đối tượng chịu rủi ro cao nhất. Kết quả thử nghiệm điều trị phân tầng theo thể bệnh, kết hợp thụt rửa sát trùng cục bộ bằng HanIodine và các phác đồ kháng sinh toàn thân phối hợp Oxytocin, đã cung cấp cơ sở khoa học và quy trình thực hành giá trị cho việc phòng trị hội chứng viêm tử cung tại các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung.