Chương 1 TÓNG QUAN 1. Máu và các chỉ tiêu sinh hoá máu Máu là mô liên kết lỏng, được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Chức năng của máu là phân phối, điều chỉnh hàm lượng các chất cần thiết, bảo vệ cơ thể (Gordon, 2003) và bình ồn nội mô (Carlson, 1997). Thể tích và thành phan cấu tạo của máu là điều quan trọng dé duy trì các hoạt động sinh lý và sinh hóa bình thường (Meyer và Harvey, 1998).
Mau thực hiện một loạt các chức năng quan trọng khi lưu thông khắp cơ thé như cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng (như vitamin, khoáng chất, chất béo và đường) đến các mô, mang carbon dioxide dén phổi dé thở ra và đưa các chất cặn bã đến thận để đào thải ra khỏi cơ thể, vận chuyên hormone đến các bộ phận khác nhau giúp các bộ phận này hoạt động, cho phép chúng liên kết chặt chẽ lẫn nhau và cùng điều hoà hoạt động của cơ thể. Máu cũng bao gồm các tế bảo chống nhiễm trùng và tiểu cầu kiểm soát chảy máu. Những yếu tố bệnh lý làm cho các tiến trình bình thường bị rối loạn. Vai trò của bác sỹ thú y là phải nhận ra những thay đổi đó một cách chính xác và có quy trình xử lý những roi loạn này một cách kịp thời, an toàn và hiệu quả (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006).
Máu Hộ sướng =— Huyết tương " _——> š Te bào máu Bạch Câu (BC) Tiéucau Hong Câu BC cốihạt BCkhong hat 2 i a BCtrungtinh BCưaacd BCưabaơ Lymphobào BC dow nhin Hình 1. Thanh phan của máu 1. Alanine aminotransferase trong huyết thanh (ALT) Trong gan có chứa các loại enzyme khác nhau như: alanine aminotransferase (ALT), aspartate aminotransferase (AST), Alkaline Phosphatase (ALP) va gamma glutamyl transferase (GGT). Do ham lượng huyết thanh của các chất nay tăng lên có thể gợi ý về bệnh gan mật.
Cả ALT và AST đều chứa trong bào tương của các tế bảo gan nên khi tăng hàm lượng huyết thanh của một trong hai enzyme này gợi ý tổn thương màng tế bào gan (Schlesinger and Rubin, 1993). ALT (còn gọi là SGPT: Serum Glutamic-Pyruvic Transaminase = glutamate pyruvate aminotransferase) là enzyme xúc tác phan ứng chuyển nhóm amin từ glutamate sang pyruvate dé tổng hop alanine. Alanine theo máu chuyên về gan và phan ứng với ơ — ketoglutarate dé tao lai pyruvate va glutamate nhờ enzyme ALT ở gan, pyruvate dùng dé tân sinh glucose, con glutamate sé đi qua phan ứng khử NH3 và đưa vào chu trình urea (Nguyễn Phước Nhuận va ctv, 2003). Gan là nguồn cung cấp ALT chủ yếu ở chó và mèo.
Tăng hàm lượng huyết thanh có thể được quan sát thấy ở động vật được điều trị bằng corticosteroid hoặc phenobarbital. Ở mèo, cường giáp cũng có thể làm tăng ALT trong huyết thanh. Hoại tử cơ cũng được chứng minh là tăng ALT trong huyết thanh (Schlesinhger và Rubin, 1993). Aspartate aminotransferase trong huyết thanh (AST) AST (SGOT: Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase = Glutamate Oxaloacetate Transferase) xúc tác quá trình chuyền hóa L-aspartate và 2-oxoglutarate thành oxaloacetate và glutamate.
AST có trong hầu hết các tế bao như gan, cơ xương, cơ tim nhau thai và tế bào hong cau nhưng được sử dung như một chan đoán enzyme cho bệnh gan và cơ vì nó hoạt động cao trong các mô này (Alves và ctv, 2009). Hoạt lực của AST cao trong gan ở tất cả các loải gia súc, cụ thể là trong tế bảo chất của tế bào gan. Khi xảy ra viêm gan cấp hay mãn tính thì hoạt lực này sẽ tăng trong huyết thanh. Bên cạnh đó, hoạt lực AST cũng tăng cao trong thận, tuy, hồng cầu và cơ xương.
Do vậy, nếu các cơ quan này bị tốn thương thì hoạt lực AST cũng tăng khi kiểm tra hàm lượng huyết thanh. AST tăng lên tối đa sau đó giảm xuống hoàn toàn là biểu hiện bệnh viêm cơ cấp. Như vậy, khi bệnh ở cơ trùng lặp với bệnh gan ở thú nhỏ thì việc định hoạt lực AST là có ích và trong trường hợp cơ bị tôn thương thi cũng có thé kết hợp kiểm tra hoạt lực AST (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006). Giá trị chính của đo hoạt lực ALT và AST huyết thanh chính là thăm đò bệnh viêm tế bào gan và sự tiến triển của viêm gan cấp.
Hoạt lực aminotransferase tăng nhẹ được xem là biểu hiện của viêm tế bao gan mãn, xơ gan, ký sinh trùng trong gan và ung thư gan khởi phát hay di căn (Tennant, 1997). BUN (Blood Urea Nitrogen) Urea trong máu là sản phẩm chính của quá trình chuyên hoa protein. Nó được tong hợp tại gan từ hai phân tử ammonia (NH3) mà hai phân tử này được tạo ra từ phản ứng khử amin của các acid amin và các gốc kiềm. Đây là cơ chế thai ammonia và phản ứng này cần năng lượng (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006).
Tăng BUN: Trong hoạt động bình thường BUN gia tang khi protein trong thức ăn tăng lên (tạo nhiều urea, tăng vận tốc lọc của quản cầu làm chức năng thận suy giảm và gây ton hại gan), vận động tích cực kéo dai (tăng 60% BUN) va do sự bài tiết qua nước tiểu giảm. Tuy nhiên, BUN sẽ tăng bất thường trong các trường hợp: chảy máu ở ruột non hoặc nhiễm trùng làm tăng protein trong ruột dẫn đến tăng sự chuyền hoa NH3 bởi các enzyme urease của ruột, tang di hoá các protein mô khi sốt hoặc bỏng, uống corticosteroid làm tăng khả năng viêm — loét niêm mạc dạ dày, uống tetracycline làm ức chế tổng hợp protein và ứ đọng các aminoacid làm tăng phân giải urea nên sẽ tăng BUN (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006). Trong một số trường hợp BUN, sẽ giảm như cơ thé tong hop steroid vì quá trình này sẽ ngăn cản tao BUN, giảm lượng protein ăn vào (đặc biệt trong giai đoạn mang thai) và suy gan nặng cũng gây giảm BUN (Finco, 1997). Creatinine Creatinine phosphate là chất dự trữ năng lượng trong cơ, dùng dé chuyên đổi năng lượng thành ATP.
Qua phản ứng cắt nhóm phosphate vô cơ sẽ tạo ra creatinine, trong phan ứng thuận nghịch thì enzyme xúc tác là creatinine amidohydrolase. Ham lượng creatinine huyết thanh tùy thuộc vao vận tốc bài tiết chúng qua thận ma không phụ thuộc vào thức ăn nhưng có thé bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống như bữa ăn giàu protein trong thịt đỏ nau chín có thé làm tăng creatinine huyết thanh. Do vậy, việc tăng creatinine rất đặc trưng cho bệnh ở thận (Wyss, 2000). Trường hop sự bài thải creatinine qua nước tiểu dién ra bình thường thi tăng creatinine huyết là do tăng sản xuất creatinine.
Mitch va Walser (1978) cho rang, bai thai creatinin không chi do tuyến thượng thận, còn có thé do vi khuan đường ruột va liên quan đến bệnh thận mãn tính tiễn triển. Bên cạnh đó, việc sản xuất creatinine từ creatine cơ bắp có thé bị ảnh hưởng xau trong bệnh gan nặng và tốt trong tiêu cơ vân (Perrone và ctv, 1992). Ở thú đực lượng creatinine cao hơn so với thú cái là 30% (dẫn liệu từ Finco, 1997). Hàm lượng creatinine 1,5 mg/dl là bình thường ở con vật hoạt động cơ bắp nhưng được coi là suy chức năng thận ở con vật lười vận động.
Theo Thuốc sức khỏe (2002) cho rằng mat khối lượng cơ là tương đương với giảm lượng creatinine (dẫn liệu từ Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006. Lượng creatinine trong m6 hôi vào khoảng 0,1 — 0,3 mg/dl (Wyss, 2002). Protein Trong mau, protein huyét thanh chiém khoang 5 — 7 g% nhung néu tinh ca hemoglobin thì có khoảng 20 g%. Chúng được tông hợp chủ yếu ở gan, bạch cầu, cu thé là trong hệ thông các tế bào đại thực bao đơn nhân, lympho bảo và các tế bao thực bào đơn nhân khác (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006).
Hàm lượng protein trong huyết thanh được kiểm soát chặt chẽ để cân bằng các chức năng sinh lý của chúng trong các lĩnh vực duy trì áp suất thẩm thấu, tham gia cấu tạo enzyme, miễn dịch, đông máu và vận chuyền ion. Bất kỳ rỗi loạn chức năng hoặc mắt cân bằng nào về hàm lượng của các protein huyết thanh đều có thé là nguyên nhân hoặc kết quả của các quá trình bệnh lý (Pieper và ctv, 2003). Albumin Albumin là một trong những thành phần protein quan trọng nhất của huyết thanh vì có 40% albumin nằm ở huyết tương và 60% nằm ở dịch ngoại bào. Trong hệ tuần hoàn nó có 2 nhiệm vụ chính là quyết định áp suất thấm thấu của máu và vận chuyển những sản phẩm chuyền hoá nội sinh bào ưa nước hoặc chất ngoại sinh, đồng thời, những chat mà được albumin mang luôn duy trì 6n định độ hoà tan trong huyết tương (Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006).
Các protein huyết tương như albumin được liên kết sinh lý trong glycocalyx, do đó góp phần vào sự ôn định của mang. Albumin là yếu tố quyết định chính của áp suất thâm thấu keo huyết tương. Ngoài ra, albumin vận chuyên sphingosine-1-phosphate có tác dụng bảo vệ nội mô, hoạt động như một chất quét gốc tự do và có tác dụng điều hòa miễn dịch và chống viêm (Aldecoa và ctv, 2020). Việc giảm lượng albumin máu là dấu hiệu của bệnh gan trầm trọng, hoặc cũng có thé do có bệnh ở quản cầu hay giãn mạch bạch huyết ruột (lymphagiectasia).
Gan là cơ quan duy nhất sản xuất ra albumin vì vậy hàm lượng của albumin tuỳ thuộc vào vận tốc tông hợp và thoái biến của gan nên chỉ số albumin thể hiện tình trạng chức năng của gan. Vì thời gian phân hủy của albumin là từ 12 — 18 ngày, nên trong giai đoạn đầu gan bi tổn thương, có thé albumin trong máu chưa giảm nhiều. Tuy nhiên, trong bệnh gan mãn tính nặng có khuynh hướng tăng IgM, IgG, IgA sẽ làm tang globulin và giảm albumin dẫn đến tỉ lệ albumin/globulin giảm (Kaneko, 1997). Albumin ở động vật bậc thấp chiếm khoảng 35 — 50% protein tổng SỐ, ngược lại trên người và động vật bậc cao khác thì albumin chiếm 60 — 67%.
Glucose Glucose là nguồn năng lượng chủ yếu và trực tiếp của cơ thể, được dự trữ ở gan dưới dang glycogen. Glucose là đường đơn hiện diện trong máu ngoại vi. Sự oxid hoá glucose sẽ cung cấp năng lượng chủ yêu cho cơ thé (khoảng 70 — 80% năng lượng hằng ngày) hoặc dẫn xuất acid glucuronic giải độc ở gan. Chúng cũng tham gia vào quá trình biến dưỡng ở mô gan và tuyến vú bằng con đường Hexose Monophosphate Shunt (HMP) dé tạo ra NADPH (nicotinamide adenine dinucleotide phosphate) cung cap hydrogen cho các phan ứng tong hợp ở mô bảo và tao pentose phosphate (chủ yếu là ribose 5-phosphate) trong tông hop nucleotide và acid nucleic (Huynh Thị Bạch Yến, 2006).
Trong co thé, nhờ hai yếu tố là hệ thống than kinh và nội tiết tố điều hoà mà hàm lượng glucose trong máu luôn cân bằng giữa cung và cầu (Nguyễn Phước Nhuận, 2003).