Chương 1 TONG QUAN 1. Bénh Feline Infectious Peritonitis (FIP) FIP hay còn gọi là bệnh viêm phúc mạc truyền nhiễm là một bệnh phức tap do một loại FCoV sây nên. Chỉ một số it mèo nhiễm Coronavirus phát triển thành bệnh FIP, FIPV gây nên bệnh FIP là kết quả sự đột biến của Coronavirus đường ruột ở mẻo (FECV) (Vennema và ctv, 1998). Lịch sử phát hiện bệnh Năm 1963 FIP lần đầu tiên được Holzworth mô ta là một “rối loạn quan trọng ở mèo”.
Trong thực nghiệm, đã quan sát thấy các hạt virus trong mô của những con mèo bị nhiễm bệnh nhưng không thé xác định được đặc điểm của tác nhân gây bệnh (Zook và ctv, 1968). Tỷ lệ mèo bị FIP gia tăng trong những năm 1960 và hiện nay nó là một trong những nguyên nhân lây nhiễm hàng đầu gây tử vong ở mèo, cho đến nay van chưa rõ lý do cho sự xuất hiện của FIP. FCoV có thé được xác định trên mèo trong nửa thé ky qua, đáng chú ý FIP đã xuất hiện trong vòng một thập kỷ sau những mô tả ban đầu về bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) trên heo ở Bắc Mỹ. Dù có thé phân biệt về mặt di truyền nhưng FIPV có liên quan chặt chẽ tới virus gây bệnh TGE trên heo và Coronavirus ở chó (CCV) (Haelterman, 1969).
Mối quan hệ di truyền giữa FIPV với Coronavirus của chó và heo được báo cáo lần đầu vào năm 1978 (Pedersen và ctv, 1978). Sự đột biến của FIP được ghi nhận vào những năm 1950, khi các lỗi ngẫu nhiên xảy ra virus biến đổi từ FECV thành FIPV (De Groot, 1987). Đặc tính sinh hoc của FCoV 1. Phân loại Thuộc họ Coronaviridae, giỗng Coronavirus (De Groot, 1987).
Đặc điểm hình thái và cấu trúc FCoV là alphacoronavirus cỡ lớn, hình cầu, là virus có vỏ bao bọc với hệ gen RNA sợi đơn chiều dương, và một nucleocapsid đối xứng hình xoắn ốc. Cấu trúc bộ gen của tất cả các FCo V là tương tự nhau. Bộ gen của chúng được kết hợp thành một sợi RNA đơn được tạo thành từ 29.000 nucleotide, mã hóa da protein, có bốn protein cấu trúc (gai nhú —S, sinh chất —M, vỏ bao hạt nhân —N, và vỏ bao ngoài —E), và có chứa một sỐ protein không cấu trúc (3a, 3b, 3c, 7a, và 7b). FCoV gồm hai serotype I và II.
FCoV type I có một protein đột biến đặc biệt, trong khi protein đột biến của các FCoV thuộc type II là sự tái tổ hợp giữa Coronavirus đường ruột (CCoV) ở mèo và chó. FCoV type I chiếm ưu thế trên toàn thế giới, nhưng FCoV thuộc type II chiếm hơn 30% số chủng phân lập ở một số quốc gia như Nhật Bản (Fiscus va ctv, 1987). Mèo bi FIP không thể hiện triệu chứng có sự phân bố rộng rãi ở các type I và II, mèo có thé nhiễm cùng lúc cả FCoV thuộc types I và II (Tekes và ctv, 2008). Cơ chế sinh bệnh và độc lực của virus 1.
Độc lực của virus Virus RNA biến đổi rõ rệt, số lượng lớn virus được nhân lên trong cùng một ký chủ và có thé phát hiện nhiều biến thé, các biến thé này không chi thấy trong các cơ quan mà còn thấy có trong các tế bao khác ở cùng một khối u hạt sinh mủ. Khảo sát trên 48 mèo khỏe mạnh về lâm sàng và 8 mèo bị FIP, kết quả phân tích gen ở các dòng FCoV cho thấy có sự khác biệt giữa các virus được phân lập, các khác biệt này thé hiện ở các gen của vỏ, gai nhú và gen 7b của protein không cau trúc. Protein vỏ là dang protein cấu trúc thấy nhiều nhất ở các Coronavirus và có liên quan đến khả năng tạo kết bám của virus. Phần lớn mèo không bị nhiễm cùng lúc nhiều dòng của FCoV, mà thường bị nhiễm bởi một dòng chính.
Tuy nhiên, trong hai trường hợp, méo bị FIP đã bị nhiễm cả hai dòng phân lập khác nhau, cho thấy có thé xảy ra đồng nhiễm (Hohdatsu và ctv, 1992). 5-10% không có triệu chứng \ thoáng qua 70% nhiễm trùng Mèo nhiễm a had /a 13% nhiễm trùng dai dang 1-3% triệu chứng điên hình bị FIP Hình 1. Các khả năng xảy ra khi mèo nhiễm FCoV (Nguồn Addie và ctv, 1995) 1. Cơ chế sinh bệnh FIPV xâm nhập vào đại thực bao bằng cách liên kết với bề mặt tế bào.
Sự nhân lên của virus trong đại thực bào rất chậm trong khoảng 2 tuần đầu tiên. Mức độ xâm nhập của đại thực bào, sự nhiễm trùng, sự sao chép và sự lây lan của virus xảy ra khoảng 10-21 ngày sau khi gây nhiễm thực nghiệm và trùng hợp với sự xuất hiện của các kháng thê đặc hiệu với virus. Sự bài thải virus: Virus được bài thải qua phân sau khi nhiễm 2 ngày và khả năng bài tiết của type là khác nhau. Các dòng của phòng thí nghiệm thường là type II và chỉ được bai tiết trong vòng 2 tuần.
Khi nhiễm bệnh tự nhiên, 65% virus type I bài tiết trong thời gian 2-3 tháng hoặc lâu hơn, một số mèo bị nhiễm cùng lúc với cả types I và II (Black và ctv, 1980). Da số mèo không còn thải virus qua phân sau 2-3 tháng, mặc dù một số mèo bị nhiễm virus hình thành thể mãn tính. Ở mèo khỏe mạnh, virus chỉ được bài tiết qua nước bọt trong thời gian ngắn (hàng giờ). Khoảng 75% mèo FIP đều có thải tiết virus trong phân, nó còn có khả năng thải tiết virus theo các chất tiết khác như nước tiểu, nước bọt và nước mắt (Oostra và ctv, 2007).
Truyền lây: FCoV có khả năng truyền lây cao, có thé sống sót đến 7 tuần trong môi trường khô ráo. FCoV đã được phân lập từ mèo con 1 ngày tuổi, cho thay FIP có khả năng truyền lây qua nhau thai (Pedersen và Boyle, 1980). Trọng tâm nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh FIP tập trung chủ yếu ở gen S. Gen S của Coronavirus rat quan trong đối với sự gắn kết thụ thể và sự xâm nhập của virus.
Phân tích trình tự gen có chiều dài 11 FECV và 11 FIPV đã xác định được hai đột biến điểm trong gen S có thể phân biệt phần lớn các FIPV với FECV (Chang và ctv, 2012). Một nghiên cứu khác cho thấy một hoặc cả hai đột bién hiện diện trong khoảng 96% trình tự FIPV trong khi chúng không có trong tất cả các FECV, bằng chứng cho thấy rằng những đột biến này có tương quan với sự xuất hiện của FIP. Một trong những đột biến dẫn đến sự thay thé ở vị trí axit amin 1058 trong protein S (M1058L) và đột biến kia gây ra sự thay thế S1060A (Chang và ctv, 2012). Gồm hai dang FIP, tràn dich và không tràn dich.
FIP không tran dịch bùng phát trong giai đoạn cuối của bệnh khi hệ thống miễn dich suy giảm. Miễn dich bảo vệ FIPV phan lớn là qua trung gian tế bao và liên quan đến sự thay đổi trong các đại thực bào bị nhiễm bệnh phản ứng với virus và ngược lại. Dịch té Sự gia tăng lưu hành của FIP liên quan trực tiếp với các thay déi trong nuôi dưỡng và chăm sóc mèo trong suốt 30 năm qua, hiện tượng phơi nhiễm với các mầm bệnh có trong phân mèo ở ngoài môi trường ngày càng gia tăng. Các giống mèo mới được lai tạo ngày càng phổ biến dẫn đến việc giảm khả năng bảo hộ miễn dich, Coronavirus thường truyền lây giữa chó và mèo sống chung tạo nên các virus biến thé tái tổ hợp (Pedersen và ctv, 1984).
Các yếu tô nguy cơ chính có liên quan đến phát triển FIP gồm: Lita tuổi: Mặc dù mèo ở mọi lita tuổi đều có thé bi FIP, nhưng mèo con dưới 2 năm tudi có nguy cơ cao nhất, lứa tuổi có nguy cơ cao thứ hai là méo trên 10 năm tudi. Đặc biệt, mèo con thường phát triển FIP nhanh hơn so với mèo trưởng thành do sé lượng virus nhiễm vào cao hơn, hệ miễn dich của chúng chưa hoàn chỉnh, hoặc do nhiều yêu tố gây căng thắng thường gặp ở mèo con như chủng ngừa vac-xin, chuyển nơi ở mới, triệt san (Dean va ctv, 2003). Giống: Giỗng mèo lai có liên quan đến việc mat đi tính đa dạng về di truyền do vậy hệ thống miễn dịch của giống mèo lai không mạnh mẽ bằng mèo giống thuần (Colgrove và Parker, 1971). Các kết quả khác nhau giữa các nghiên cứu cho thấy khả năng man cam bam sinh đối với FIP được chứng minh ở mèo Ba Tư.
Trong một nghiên cứu khác, mèo Ba Tư, mèo Burmese, mèo mun ngoại nhập, mèo Manxe, mèo Nga, và mèo Thái không thể hiện nguy cơ bị FIP, trong khi mèo Abyssinian, Bengal, Birman, Himalayan, Ragdoll, va Rex Cats đã bị FIP (Niels, 2009). Thú ho mèo: FIP đã được báo cáo trong nhiều loài thú hoang dã họ mèo: mèo hoang Châu Âu, sư tử, cọp, báo gam, báo, mèo cát, sư tử núi, linh miêu va méo rừng Châu Phi. Mèo nhà hoặc mèo nuôi làm kiếng dễ bị nhiễm FCoV hơn là những con mèo ở ngoài tự nhiên (Niels, 2009). Miễn dịch Trong giai đoạn đầu khi nhiễm FIPV, virus xâm nhập vào não và mắt thông qua các tế bào đơn nhân bị nhiễm nhưng khó có khả năng xâm nhập do có hàng rào máu não bảo vệ.
Miễn dịch dịch thể không quan trọng trong việc bảo vệ, nhưng nó có thé tham gia vào quá trình sinh bệnh, kha năng bảo vệ miễn dịch phan lớn là qua trung gian tế bào (Sandra Felten va Katrin Hartmann, 2019). Các kháng thể của FIPV tham gia vào hai quá trình miễn dịch khác nhau, cả hai quá trình này đều không tương quan với khả năng miễn dịch. Quá trình đầu tiên là phản ứng quá man tập trung vào các tiêu tĩnh mạch nhỏ, trong khi quá trình thứ hai là sự tăng cường kháng thê qua trung gian tế bào đối với sự hấp thu và sao chép virus bởi các đại thực bào (Sandra Felten va Katrin Hartmann, 2019). FIP tràn dich Mèo bị FIP dạng tràn dịch bụng mèo to ra và có hiện tượng bị tràn dịch xoang ngực hoặc cả hai.
Các dau hiệu có thé thấy méo bị lờ do, kém ăn hay ăn uống bình thường. Sung bat thường với dich tràn sóng sánh, sốt nhẹ 39°C đến 39,5°C, giảm thé trọng, khó thở, tăng nhịp thở, bìu dai sưng, âm thanh nhịp tim giảm, va mang nhày nhạt màu hoặc hoàng đản. Khối chat chứa trong bụng có thé sờ nắn thấy, thé hiện viêm dính phúc mạc và phủ tạng, và hạch lâm ba mảng treo ruột có thê sưng to (Niels, 2009). Trương giãn bụng do FIP tràn dịch (Nguồn Addie và ctv, 1995) 1.
FIP không tran dịch FIP không tràn dich là dấu hiệu của bệnh mãn tinh, xảy ra hang tuần đến hàng tháng sau khi bị nhiễm.