mở đầu là AUG. Vùng không dịch mã đầu 3’(3’UTR) có khoảng 190 nt và đuôi poly (A) có 10-100 nt (Fry, 2005; Caovà cs. Toàn bộ hệ gen của virus LMLM mã hóa cho một protein lớn. Sau khi dịch mã, protein này phân cắt thành 4 sản phẩm sơ cấp, được đặt tên là: Lpro, P1-2A, P2 và P3.pro (Leaderprotease) là một protein đầu N-tận cùng (N- terminal) của chuỗi polyprotein.
Vùng mã hóa protein L chứa 2 mã khởi đầu và tạo ra 2 protein riêng biệt gọi là Lab và Lb (Carrillo và cs., 2005; Sangar và cs. Lpro có vai trò ức chế việc tổng hợp protein của tế bào chủ nhờ sự cắt protein IF4G của tế bào chủ, đây là yếu tố khởi đầu cần thiết cho quá trình phiên mã các mRNA tế bào chủ đã được gắn mũ (capped cellular mRNAs). Nhờ đó mà RNA của virus LMLM có thể tự do sử dụng bộ máy tổng hợp protein của tế bào chủ phục vụ cho việc tổng hợp protein của virus bởi vì vùng IRES của virus LMLM có thể phản ứng với phân đoạn đầu C-tận cùng (C-terminal fragment) của eIF4G. Trong virus tự nhiên sự phân tách của polyprotein cấu trúc P1-2A với polyprotein không cấu trúc P2 của virus LMLM xảy ra tại điểm cuối 2A va đầu 2B tại cấu trúc đặc trưng là Glycin-Prolin (StopGo) (Belsham, 2005).
Trong phần lớn các picornavirus, sự phân cắt ở điểm nối giữa protein cấu trúc và phi cấu trúc qua trung gian bởi protein 2A, tuy nhiên kích thước và chức năng của 2A khác nhau giữa các chi khác nhau (Luke et al. Trong quá trình lắp ráp hệ gen của virus tạo lớp vỏ, VP0 sẽ được cắt thành VP4 và VP2. 11 luan an 12 VP4 bị ẩn hoàn toàn vào trong hạt virus (Belsham et al., 1991), trong khi đó VP1, VP2 và VP3 được bộc lộ ra ngoài hạt virus và góp phần tạo nên tính kháng nguyên của virus (Jackson và cs. VP1 chứa tối thiểu 2 quyết định kháng nguyên quan trọng ở các thòng lọng G-H (G-H loop) thuộc vị trí của các amino acid 141-160 và 200-213.
Thòng lọng G-H có trong motif arginine-glycine-aspartic acid (RGD) là cực kỳ quan trọng cho việc gắn virus vào thụ thể tế bào vật chủ (Fox và cs, 1989; Jackson và cs 1997). Tuy nhiên, virus cũng có thể xâm nhập vào tế bào không qua con đường nhận biết thụ thể nhờ RGD motif mà có thể nhiễm vào tế bào qua một một phân tử khác ví dụ như các thụ thể heparan sulphate proteoglycan (HSPG) (Fowler và cs. Các trình tự nucleotide của vùng mã hóa VP1 đã được sử dụng để đánh giá các đặc tính di truyền của các chủng virus LMLM, bởi vì vùng này đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gắn kết và xâm nhập của virus vào tế bào vật chủ. Phân tích cây phát sinh chủng loại dựa trên trình tự VP1 đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá quá trình tiến hóa cũng như mối liên quan về mặt dịch tễ học của các dòng di truyền và nguồn gốc của các chủng gây nên những vụ dịch mới bùng phát.
Các vùng P2 và P3 của polyprotein được phân cắt thành các protein phi cấu trúc (NSPs). Vùng P2 sẽ tạo ra các protein 2B và 2C, trong khi đó vùng P3 sẽ phân cắt để tạo thành các protein 3A, ba phiên bản khác nhau của VPg (3B1-3), 3Cpro và 3Dpol. Các protein được mã hóa bởi P2 và P3 gồm protein liên quan tới quá trình chế biến (3Cpro) và các protein sao chép hệ gen (2B, 2C, 3A, 3B1-3 (VPg) và 3Dpol). 3Cpro chịu trách nhiệm phân cắt P1-2A thành VP0, VP1, VP3 cũng như hình thành các protein phi cấu trúc khác nhau.
Vùng đầu 3’ không dịch mã (3′ UTR) ngắn hơn nhiều so với vùng đầu 5’ không dịch mã (5′ UTR). Nó chỉ dài khoảng 90 nt và gấp nếp để tạo ra một cấu trúc thòng lọng (stem-loop) đặc trưng, tiếp theo là đuôi 12 luan an 13 polyA với độ dài khác nhau. Vùng 3’ không dịch mã (3′ UTR) có thể đóng vai trò quan trọng trong việc sao chép hệ gen của virus. Các type huyết thanh (serotype) của virus LMLM Virus LMLM được xác định là có bảy type huyết thanh riêng biệt, bao gồm O, A, C, Asia1 và các type huyết thanh Nam Phi (SAT) là SAT1, SAT2 và SAT3 (Rweyemamu và cs.
Virus LMLM type A đã được xác định là một trong những type đa dạng nhất về mặt kháng nguyên trong số bảy type huyết thanh (Tosh, 2002; Kitching, 2016). Type huyết thanh A đã được phân loại thành 10 kiểu gen (genotype) chính (được xác định là I đến X) dựa trên các cây phát sinh loài xây dựng trên trình tự gen VP1 (Tosh và cs., 2002; Kitching và cs. Virus LMLM type O được phân thành 11 genotype, được xác định là Châu Âu-Nam Mỹ (Euro-SA), Trung Đông-Nam Á (ME- SA), Đông Nam Á (ĐNÁ), Cathay(CHY), Tây Phi (WA), Đông Phi 1 (EA-1), Đông Phi2 (EA-2), Đông Phi 3 (EA-3), Đông Phi 4 (EA-4), Indonesia-1 (ISA-1) và Indonesia-2 (ISA-2) (Knowles và cs., 2005; Ayelet và cs. Virus LMLMtype Asia1 được phân thành bảy genotype (được xác định là I đến VII) (Jamal và cs.
Bệnh LMLM là một bệnh thường gặp và phổ biến ở châu Phi, châu Á và là mối đe dọa trực tiếp đến các khu vực không có bệnh LMLM như châu Mỹ, châu Âu và Châu Úc (OIE-FAO. Ở Việt Nam, Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong đó sản xuất động vật đóng góp khoảng 32 % vào tổng GDP. Bệnh LMLM được coi là quan trọng nhất về kinh tế do bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến gia súc quan trọng như trâu, bò và lợn. Sự lưu hành đồng thời của các type huyết thanh O, A và Asia1, trong đó type huyết thanh O là phổ biến nhất và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch bệnh lớn (Kitching và cs., 13 luan an 14 2007; Jamal và cs.
Type huyết thanh O và sự bùng phát dịch LMLM do type này ở Việt Nam lần đầu tiên được mô tả trong nghiên cứu học thuật từ năm 1996 đến 2001 (Gleeson, 2002). Virus LMLM type Asia1 và A đã được phát hiện lần lượt vào năm 2005 và 2009 (Le và cs., 2010; Le và cs. Vào năm 2008 và đầu tháng 2 năm 2009, các type huyết thanh O và A đã được báo cáo là type huyết thanh phổ biến và gây ra khoảng 166 vụ dịch LMLM tại 128 xã thuộc 47 huyện của 14 tỉnh trong cả nước (Nguyen Van Hoang và cs. Chẩn đoán bệnh LMLM Do sự gia tăng nhanh chóng của dịch LMLM, nên việc chẩn đoán nhanh, chính xác và xác định type huyết thanh cũng như sự tương đồng kháng nguyên của chủng virus LMLM liên quan đến dịch bệnh là vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Bệnh LMLM được chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm sàng, bao gồm sốt cao, chảy nước dãi quá nhiều, hình thành túi dịch trên niêm mạc miệng, trên mũi, trên bàn chân. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng thì có thể nhầm lẫn với các bệnh khác (ví dụ như bệnh thoái hóa khớp và bệnh mụn nước (vesicular) ở lợn và do đó cần phải có các chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Hơn nữa, giữa các type huyết thanh khác nhau không có sự bảo vệ chéo, điều này không thể được xác định trên cơ sở các dấu hiệu lâm sàng. Do đó việc xác định các type huyết thanh liên quan đến sự bùng phát của bệnh LMLM ở hiện trường phải được xác minh trong phòng thí nghiệm để thực hiện các chương trình kiểm soát/tiêm phòng vaccine thích hợp.
Nhiều kỹ thuật đã được sử dụng để chẩn đoán bệnh và để xác định type huyết thanh của virus LMLM (Donaldson và Kitching, 1989). Các phương pháp hiện tại được sử dụng bao gồm: 14 luan an 15 1. Phản ứng trung hòa virus Các xét nghiệm trung hòa virus hiện được coi là "tiêu chuẩn vàng" để phát hiện kháng thể đối với protein cấu trúc của virus LMLM và là một xét nghiệm quy định đối với chứng nhận xuất nhập khẩu động vật/sản phẩm động vật (OIE, 2012). Tuy nhiên, do xét nghiệm trung hòa được thực hiện trên các tế bào có độ nhạy khác nhau nên kết quả xét nghiệm có thể không đồng nhất so với các xét nghiệm huyết thanh học khác.
Hơn nữa, xét nghiệm trung hòa mất nhiều thời gian, dễ bị nhiễm và đòi hỏi phải có điều kiện an toàn sinh học nghiêm ngặt do phải sử dụng virus chưa được bất hoạt, trong khi đó, các xét nghiệm huyết thanh học khác, có thể sử dụng các virus đã bất hoạt để làm kháng nguyên. Thường tiến hành trong môi trường nuôi cấy tế bào trong các phiến nhựa vi lượng (Microplates) đáy bằng, sử dụng các dòng tế bào mẫn cảm như IB-RS-2, BHK-21 hoặc tế bào tiên phát của thận lợn hoặc thận cừu.Huyết thanh được pha tỉ lệ 3/4, xử lý ở 56 ºC trong 30 phút sau đó pha loãng theo hệ số 2 trong phiến nhựa vi lượng. Virus với hiệu giá định trước ở nồng độ 100 liều TCID50 được bổ sung vào giếng của phiến vi lượng và để ở nhiệt độ 37 ºC trong 60 phút để phản ứng trung hòa diễn ra. Phản ứng trung hòa virus rất đặc hiệu và nhạy, chỉ cần 2- 3 ngàylà có kết quả.
Tuy nhiên, ở độ pha loãng huyết thanh thấp, nếu không xử lý tốt để loại bỏ chất ức chế không đặc hiệu có trong huyết thanh thì hiện tượng dương tính giả có thểxảy ra. Phản ứng kết hợp bổ thể (KHBT) Dùng kháng thể chuẩn để xác định type huyết thanh O, A, C trong bệnh phẩm. Phản ứng nhanh, cho kết quả trong khoảng 12 giờ, đơn giản giúp khẳng định hoặc loại trừ nghi ngờ bệnh LMLM. Phản ứng này cũng đã được hoàn thiện và nếu sử dụng thành thục sẽ là một phương pháp hữu hiệu để chẩn đoán phân biệt giữa virus LMLM và các virus gây viêm mụn nước khác.
15 luan an 16 Phản ứng kết hợp bổ thể dùng hai hệ thống: i) Hệ thống phản ứng (kháng nguyên kết hợp đặc hiệu với kháng thể) và ii) Hệ thống phát hiện (hệ thống dung huyết, thường là hồng cầu cừu đã phản ứng đặc hiệu với kháng thể kháng hồng cầu cừu) có sự tham gia của bổ thể. Huyết thanh miễn dịch của từng type được bào chế trên chuột lang bằng phương pháp gây miễn dịch. Tiêm vaccine LMLM của từng type huyết thanh vào trong da dưới gan bàn chân chuột lang (mỗi type một chuột) hai lần mỗi lần cách nhau một tháng, sau đó lấy máu, chắt huyết thanh có chứa kháng thể. Kháng nguyên là máu gia súc nghi mắc bệnh LMLM hoặc bệnh phẩm cấy vào trong môi trường nuôi cấy tế bào tuyến yên của bò hoặc lợn, tế bào thận bê, thận cừu non hay các dòng tế bào thường trực có độ nhạy tương đương.