LỜI MỞ ĐẦU Vô sinh là một vấn đề sức khỏe sinh sản cấp thiết và đang có xu hướng gia tăng trong xã hội hiện nay. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỉ lệ hiếm muộn trung bình khoảng 6-12% dân số toàn cầu [1].Tại Việt Nam, một nghiên cứu phối hợp giữa Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội tiến hành trên 13.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) ở 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái ở nước ta, cũng xác định tỉ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 7.7%, tỷ lệ vô sinh nam và vô sinh nữ tương đương nhau [2]. Đây là những con số rất đáng báo động vì tỉ lệ vô sinh đang tăng rất nhanh theo thời gian. Các kết quả nghiên cứu cho thấy nam giới có vai trò không kém nữ giới trong vấn đề chẩn đoán và điều trị vô sinh.
Để chẩn đoán vô sinh nam thì tinh dịch đồ là xét nghiệm thường quy. Tuy nhiên, xét nghiệm này không đánh giá được tính toàn vẹn về mặt vật chất di truyền trong tinh trùng và còn mang nặng tính chủ quan. Để chẩn đoán được chính xác những nguyên nhân làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, đối tượng nam giới vô sinh cần được làm thêm nhiều xét nghiệm khác, trong đó có xét nghiệm đánh giá mức độ phân mảnh DNA tinh trùng. Để đáp ứng nhu cầu xét nghiệm, kít xác định phân mảnh DNA tinh trùng trên thế giới đã được chế tạo rất nhiều tuy nhiên khả năng phát hiện phân mảnh DNA tinh trùng vẫn chưa thực sự ổn định và giá thành còn rất cao (khoảng 1 - 2 triệu đồng/xét nghiệm).
Do đó việc phát triển được một bộ kít chuẩn, xây dựng được một quy trình xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng chuẩn, ổn định và giá thành thấp đang dần trở nên cấp thiết và thực sự có ý nghĩa thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán và đưa ra hướng điều trị vô sinh nam để đạt được kết quả khả quan nhất. Vì vậy tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện kít thử và quy trình tạo tiêu bản xác định sự phân mảnh DNA tinh trùng người" với các mục tiêu sau: - Xác định được một số điều kiện thích hợp để chế tạo kít thử làm tiêu bản xác định mức độ phân mảnh của DNA tinh trùng người. - Đánh giá mối tương quan giữa mức độ phân mảnh DNA tinh trùng và một số đặc tính tinh trùng sử dụng kít BK-Halosperm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm của tinh trùng người 1.1 Sự hình thành tinh trùng người Tinh trùng người là các tế bào đơn bội, mang 23 nhiễm sắc thể (NST) là đặc điểm di truyền của người cha. Tinh trùng có cấu tạo phù hợp giúp tinh trùng có thể di chuyển, nhận biết và thụ tinh với noãn trong đường sinh dục nữ. Sự sinh tinh là một quá trình liên tục và có thể chia làm 3 giai đoạn: sự sản xuất các tế bào mầm (giao tử); sự biệt hoá chức năng để thụ tinh (giảm phân); và sự biệt hoá cấu trúc để hoạt hoá khả năng di động [3]. Sơ đồ các giai đoạn chính trong quá trình sinh tinh [3] - Sự tạo thành giao tử Trong tiểu quản sinh tinh, có hai loại tế bào somatic: tế bào cơ trơn và tế bào Sertoli; và năm loại tế bào mầm: tinh nguyên bào (spermatogonia), tinh bào sơ cấp và tinh bào thứ cấp (spermatocyte), tinh tử (spermatid) và tinh trùng (spermatozoa).
Các tinh nguyên bào nằm dọc theo bờ ngoài của các tiểu quản, tiếp xúc với các tế bào hỗ trợ, đó là các tế bào Sertoli. Các tế bào Sertoli tạo thành một lớp liên tục trên màng đáy của tiểu quản và gắn kết chắc chắn với nhau do ranh giới tế bào khít. Bằng cách này chúng tạo thành hàng rào tinh hoàn - máu về mặt miễn dịch. - Sự biệt hoá về mặt chức năng Tinh nguyên bào (spermatogonia): Khi các tế bào mầm nguyên thuỷ phân chia nguyên phân, nó tạo ra các tinh nguyên bào 2 - Tinh bào sơ cấp (primary spermatocyte): Ngay sau lần nguyên phân cuối cùng của tinh nguyên bào B, các tế bào chị em còn gắn kết với nhau qua cầu nối bào tương, sẽ nhân đôi bộ NST kiểu như để chuẩn bị cho nguyên phân một lần nữa.
- Sự giảm phân và tinh bào thứ cấp (secondary spermatocyte): Sự giảm phân I xảy ra khá nhanh và mỗi tinh bào sơ cấp chia thành 2 tinh bào thứ cấp, mỗi tinh bào thứ cấp lúc này chứa bộ NST đơn bội ở dạng kép (1n2c). Thời gian tồn tại của tinh bào thứ cấp ngắn, nó nhanh chóng phân chia lần hai để chia đôi các NST dạng kép và thành hai nửa và thành hai tinh tử đơn bội. - Sự biệt hoá về cấu trúc Các tinh tử trải qua sự biệt hoá về hình thái hình thành nên tinh trùng trưởng thành. Quá trình biệt hoá này được gọi là sự hình thành tinh trùng.
Các tinh tử kéo dài ra và phát triển đuôi nhưng vẫn còn gắn với nhau và các tế bào Sertoli bên dưới bởi phương tiện là cầu nối tương bào. Kết quả của quá trình này là hình thành các tinh tử với đơn bội NST có nguồn gốc từ tế bào mẹ. Sự biến đổi tinh tử thành tinh trùng [3] 1. Hình thái và cấu trúc Một tinh trùng trưởng thành có chiều dài khoảng 50μm, bao gồm phần đầu và phần đuôi.
Phần đầu có hình bầu dục với chiều dài khoảng 4,0 - 5,5μm, chiều rộng 2,5 - 3. Tỉ lệ chiều rộng trên chiều dài vào khoảng 1,5 - 1,7. Đầu tinh trùng chia làm 2 vùng: nhân và cực đầu (acrosome) chứa các enzyme cần thiết 3 cho quá trình thụ tinh và nhân chứa vật chất di truyền [4]. Phần đuôi tinh trùng dài khoảng 40 - 50μm, chứa tất cả các thành phần cần thiết cho khả năng di động.
Hình thái và cấu trúc tinh trùng (điều trị. Cấu tạo nhiễm sắc chất tinh trùng Nhiễm sắc chất (Chromatin) là vật chất di truyền của tế bào gồm các chuỗi DNA kết hợp với protein cấu trúc. Phần lớn chất nhiễm sắc của tinh trùng được ngưng tụ bởi các protamine ở dạng cấu trúc hình xuyến rất nhỏ gọn, mỗi cấu trúc chứa khoảng 50 Kb DNA [5], [6], mặc dù khoảng 8% DNA vẫn được tổ chức bởi histones [7] [8] [9]. Các protein cấu trúc này có vai trò tổ chức hình thái và điều hòa hoạt động của DNA.
Ở tế bào sinh dưỡng, protein cấu trúc chủ yếu là các protein histone. Chromatin trong tế bào tinh trùng có sự khác biệt với chromatin của tế bào sinh dưỡng. Trước quá trình giảm phân, chromatin của tinh nguyên bào cũng mang các protein histone, khi các tế bào giảm phân, protein histone này được thay thế bởi biến thể histone đặc trưng cho tinh hoàn [10]. Trước khi tiến hành thay thế histone, chromatin dãn rộng và có nhiều vùng co cụm.
Các biến thể histone thay thế vào giúp chromatin trở nên gọn gàng và đồng đều hơn [11]. Tiếp theo, trong các tinh tử hình cầu, protein histone được thay thế dần bởi protein chuyển tiếp. Đến giai đoạn tinh tử kéo dài, protein chuyển tiếp bị loại khỏi chromatin và thay bằng protamine. Ở người khi kết thúc quá trình sinh tinh, khoảng 85% histone được thay thế bởi protamine [12].
Quá trình thay thế histone thành protamine rất quan trọng trong sự hình thành tinh trùng cũng như chức năng sinh lý của tinh trùng khi gặp noãn [13]. 4 Protamine có kích thước khoảng một nửa histone. Chúng là các protein rất kiềm, giàu 2 amino axit là arginine và cysteine [12], [14]. Hàm lượng arginine cao (lên đến 70% trong tổng số các amino axit) hình thành một mạng lưới điện tích dương, giúp protamine có thể liên kết chặt chẽ với DNA mang điện tích âm [15].
Cysteine góp phần trong việc hình thành cầu nối disulfide nội phân tử của protamine và liên kết giữa các protamine với nhau [16]. Protamine giúp nén chặt các sợi DNA và hình thành các đơn vị đóng gói cơ bản của chromatin tinh trùng được gọi là toroid, một phần nhỏ liên kết với histone tạo cấu trúc lỏng lẻo hơn và phần còn lại liên kết với chất nền nhân tinh trùng (Matrix Attachment Regions - MAR) có kích thước khoảng 50kb (Hình 1. Các liên kết chéo disulfide nội phân tử và liên phân tử giữa các cysteine trong protamine giúp các toroid càng nén chặt hơn nữa [17]. Với cấu trúc có sự tham gia của protamine, DNA tinh trùng người được nén chặt bằng 1/6 so với DNA của tế bào sinh dưỡng bình thường.
Cấu trúc chromatin của tinh trùng [18] Thành phần protein quan trọng khác trong cấu trúc DNA tinh trùng là histone. Theo Hammoud và cộng sự (2009), có khoảng 4% lượng DNA 5 liên kết với histone tại các vùng gen khởi động phiên mã (gene promoter site) [9]. Toàn bộ các vùng gen đặc trưng cho quá trình sinh tinh và thụ tinh được xác định là liên kết với histone trong nhiễm sắc thể của tinh trùng. Tuy nhiên, những vùng gen này lại dễ bị bất hoạt bởi hoạt động của các enzyme nuclease.
Histone trong DNA tinh trùng không được thay thế bởi histone của noãn sau quá trình thụ tinh nên bất cứ tổn thương nào ở vùng này cũng sẽ truyền trực tiếp cho phôi [19]. Do đó, nếu không được phát hiện và sửa chữa sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi và thai nhi. Tình hình vô sinh ở nam giới 1. Sơ lược vô sinh nam Vô sinh nam được định nghĩa là tình trạng nam giới không có khả năng thụ thai cho nữ giới sau khi kết hôn 12 tháng mà không sử dụng biện pháp tránh thai nào [20].
Người ta ước tính rằng 20 - 30% các trường hợp vô sinh chỉ do yếu tố nam giới và 20% khác liên quan đến các vấn đề từ cả hai vợ chồng [21] và sự suy giảm số lượng tinh trùng được báo cáo trong các báo cáo khoa học ngày càng tăng [22]. Song song với số lượng tinh trùng, suy giảm là một xu hướng đáng lo ngại không kém và kéo dài trong các bất thường của hệ thống sinh sản nam giới, chẳng hạn như hiện tượng tinh hoàn ẩn, khối u tế bào mầm và đến tuổi dậy thì [23]. Nếu xu hướng tiêu cực về số lượng tinh trùng và các vấn đề về hệ thống sinh sản nam có giá trị, thì điều đó có nghĩa gì đối với khả năng sinh sản của nam giới nói chung và có những vấn đề khác liên quan đến sức khỏe sinh sản của nam giới [24]. Nguyên nhân vô sinh ở nam giới Các nguyên nhân dẫn tới vô sinh nam bao gồm [25] - Nhóm nguyên nhân bất thường về tinh trùng: Thiểu năng tinh trùng: Tinh trùng ít, yếu, dị dạng.
Không tinh trùng.