Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số giống chó được nuôi tại Bắc Giang 1. Giống chó Vàng Giống chó Vàng có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55 cm, nặng 12 - 15 kg. Chó đực phối giống được ở lứa tuổi 15 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản được ở 12 - 14 tháng tuổi, mỗi lứa đẻ trung bình 5 con.
Giống chó Phú Quốc Chó Phú Quốc có màu nâu xám, bụng thon, trên lưng lông mọc có hình xoắn, lông vàng xám có các đường kẻ nhạt chạy theo dọc thân, tầm vóc tương tự giống chó Lào. Chó cái đẻ trung bình mỗi lứa 5 con. Giống chó becgie Đức Chó becgie Đức có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó nội, dài 110 - 112 cm, cao 56 - 65 cm đối với chó đực và 62 - 66 cm đối với chó cái, khối lượng 28 - 37 kg. Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và 4 chân có màu vàng sẫm.
Đầu hình nêm, mũi phân thùy, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít. Cổ chắc, ngực nở hình ovan, u vai, lưng chắc rộng có độ dốc về phía sau, bụng thon, đuôi dài hình lưỡi kiếm. Chân trước thẳng đứng, chân sau đứng hơi choãi về phía sau, khoeo chân sau giống khoeo mèo. Nuôi trong điều kiện nước ta chó đực có thể phối giống khi 24 tháng tuổi, chó cái có thể sinh sản khi 20 - 28 tháng tuổi, chó cái đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 4 - 8 con.
Giống chó Chihuahua Giống chó Chihuahua từ xa xưa đã được nuôi làm cảnh ở các cung đình và các gia đình quý tộc phong kiến Trung Quốc, ngày nay chó Chihuahua được nuôi làm cảnh ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở nước ta, giống chó này còn được gọi là “chó bỏ túi” vì chó tầm vóc rất nhỏ, chỉ nặng 2,1 - 2,7 kg, cao 16 - 20 cm, dài khoảng 30 cm, người ta có thể cho vào túi ba lô mang đi du lịch. Giống chó Phốc hươu Chó Phốc hươu là giống chó săn nhỏ có nguồn gốc Đức. Chiều cao trung bình 25 - 30 cm, nặng 4 - 6 kg.
Chó phốc hươu chuẩn, thuần chủng phải thân hình thanh thoát, ngực nở, vai khi đứng cao hơn hông một chút, lưng thẳng, mặt dài (nhìn giống mặt hươu) và dáng đứng oai vệ. Chó Phốc hươu có 2 màu phổ biến là nâu đỏ và đen pha nâu nhạt. Ở Việt Nam chó Phốc hươu màu nâu đỏ là phổ biến nhất. Giống chó Rottweiler (hay còn được gọi là chó Rott, chó Rốt hoặc Rockweller) Rottweiler là một giống chó cổ của Đức, được lai tạo nhằm mục đích chăn gia súc, giữ nhà hoặc làm chó cảnh vệ.
Điều này được phản ánh rất rõ qua hình dáng đặc biệt của giống chó này: ngực rộng, hàm lớn và thân hình cơ bắp. Rottweiler là một trong những giống chó lớn, thuộc loại masiff (chó giữ nhà lớn). Một chú chó Rottweiler trưởng thành thường cao từ 55 - 70 cm, nặng phổ biến từ 35 - 60 kg, được chia thành 2 dòng là dòng đại và dòng trung, tùy vào chiều cao và cân nặng. Ở Việt Nam, chó Rottweiler đa số là dòng trung (nặng dưới 45kg, và cao dưới 60 cm), dòng đại thường chỉ phát triển đến kích thước cực đại khi được nuôi ở những vùng có khí hậu ôn đới.
Giống chó Nhật Giống như tên gọi, đây là giống chó của Hoàng gia Nhật và xuất hiện rất lâu đời ở Nhật Bản. Chúng được nuôi làm cảnh hoặc để bầu bạn. Chó Nhật có cơ thể nhỏ gọn và cân đối hơn chó Bắc Kinh. Chiều dài cơ thể cân đối với chiều cao, kích thước chiều cao từ 18 - 28 cm và trọng lương khoảng từ 2 - 7 kg.
Dáng đi của chó Nhật trông nhanh nhẹn và khỏe khoắn. Khi đứng, chó Nhật cao khoảng 20 - 27 cm. Giống chó phương Đông này có đầu lớn, mắt to, tai mọc lông dài và có khoang hoa văn ở mặt. Giống chó Labrador Labrador là một loại chó được nuôi rất phổ biến ở Anh và Mỹ.
n 5 Labrador Retriever được chia ra làm 2 loại là Labrador Anh và Labrador Mỹ. Chó Labrador Anh có thân hình chắc chắn, người dầy và vuông vức hơn trong khi chó Labrador Mỹ lại có thân hình cao và thon hơn. Labrador là giống chó rắn chắc và khỏe mạnh, thân hình khá dài, với bộ lông ngắn, cứng, dễ chăm sóc. Kích thước chiều cao trung bình của con đực từ 56 - 61 cm, con cái từ 53 - 58 cm.
Cân nặng con đực từ 27 - 34 kg, con cái từ 25 - 32 kg. Lông của chúng gần như thẳng tuyệt đối, không một gợn sóng, các màu phổ biến là đen, vàng và sôcôla. Chó Labrador có đầu rộng, mũi dày và hàm sắc bén. Mõm của chúng khá rộng với cổ rất mạnh mẽ, cặp mắt màu hạt dẻ hoặc nâu đỏ toát lên vẻ thông minh.
Cấu trúc xương ở các chi rất chắc chắn, giữa các ngón chân có màng giúp chúng bơi lội dễ dàng. Ngoài ra còn có rất nhiều các giống chó khác như: chó lai becgie, Bắc Kinh, Tây Ban Nha, Bulldog, Bully, Alaska, Husky… 1. Lịch sử bệnhvà tình hình nghiên cứu bệnh Care 1. Tình hình nghiên cứu bệnh Care trên thế giới Bệnh Care hay còn gọi là bệnh sài sốt chó là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm thường xảy ra ở chó non, lây lan nhanh và tỷ lệ chết rất cao.
Đây là một căn bệnh nguy hiểm nhất trên chó trong nửa đầu thế kỷ XIX. Tỷ lệ mắc bệnh lớn nhất ở chó con 3 - 6 tháng tuổi, khi miễn dịch chủ động từ mẹ truyền sang đã giảm thì tỷ lệ mắc bệnh từ 25% tới trên 30% và tỷ lệ chết ở chó mắc bệnh thường cao từ 50% - 90%. Chó mắc bệnh này thấy tổn thương lớn ở hệ tiêu hóa đặc biệt ở dạ dày và ruột, hệ thần kinh trung ương và hệ hô hấp (Woma and Van Vuuren, 2009) [74]. Bệnh Care được báo cáo lần đầu tiên ở Châu Âu vào năm 1760 (Appel và Gillespie,1972b) [16].
Các triệu chứng lâm sàng và tiến triển của bệnh đã được mô tả từ năm 1809 bởi EdwardJenner (dẫn theo Appel và Gillespie, 1972b) [16]. Năm 1905, bác sĩ thú y người Pháp Henri Care đã phân lập được n 6 mầm bệnh từ nước mũi của chó bị bệnh. Ông đã đem lọc mẫu bệnh phẩm qua màng lọc vi khuẩn và đem gây bệnh thực nghiệm cho chó khỏe mạnh khác thì thấy vẫn gây được bệnh. Vì thế, ông kết luận nguyên nhân của bệnh là do virus.
Sau này, người ta lấy tên ông để đặt tên cho mầm bệnh và tên bệnh (David and Martin, 1979) [28]. Đến năm 1923, Putoni lần đầu tiên chế vắc xin nhược độc, tuy nhiên virus vắc xin này độc lực vẫn còn rất cao. Từ năm 1948 về sau, với sự phát triển mạnh mẽ của virus học nhiều vắc xin phòng bệnh Care có hiệu quả ra đời. Hiện nay bệnh có ở khắp nơi trên thế giới, không những xảy ra trên đàn chó nuôi mà còn xuất hiện ở nhiều loài động vật hoang dã.
Chó mắc bệnh Care thể cận lâm sàng trở thành mối đe dọa nghiêm trọng cho việc bảo tồn nhiều loài thú ăn thịt và thú có túi. Qua thống kê các nghiên cứu cho thấy, bệnh Care góp phần quan trọng vào sự tuyệt chủng của chồn chân đen, hổ Tasmania và là nguyên nhân gây tử vong định kỳ của chó hoang dã Châu Phi (Assessment, 2005) [22]. Năm 1991, bệnh Care gây chết 20% tổng đàn trên đàn sư tử Serengeti ở Tanzania (Woma và Van Vuuren, 2009) [74]. Đặc biệt virut Care cũng có khả năng gây bệnh cho một số động vật biển (Kennedy và cs.
Ở loài cáo tai to lần đầu tiên được báo cáo mắc bệnh Care cùng với cầu trùng (Woo và cs. Kubo và cs. (2007) [43] đã nghiên cứu về sự phân bố của các thể bao hàm trên các cơ quan khác nhau của 100 chó đựợc chẩn đoán dương tính với bệnh Care. Thể bao hàm được tìm thấy ở các cơ quan như: phổi (70 chó), não (20 chó), bàng quang (73 chó), dạ dày (78 chó), lách (77 chó), và hạch lympho (81 chó).
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hạch amidan là cơ quan phù hợp nhất để phát hiện thể bao hàm ở bệnh Care. Del Puerto và cs. (2010) [30] đã nghiên cứu cơ chế apoptosis của tế bào lympho và não bằng cách đánh giá hàm lượng mRNA trong máu ngoại vi, hạch lympho và não của chó mắc bệnh Care và chó khỏe mạnh bằng phương pháp rRT - PCR. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế apoptosis tế bào của n 7 virus Care ở não và hạch lympho của chó mắc bệnh Care là theo các cách thức khác nhau.
Tan và cs. Chủng virus ZJ7 có khả năng gây bệnh tích hợp bào trên tế bào MDCK sau 6 lần cấy truyền trên môi trường nuôi cấy. Nhằm đánh giá độc lực của chủng ZJ7, 3 chó có huyết thanh âm tính với Care được gây nhiễm với chủng virus trên qua nhỏ mũi. Tất cả chó được gây nhiễm đều biểu hiện triệu chứng lâm sàng như tiêu chảy ra máu, viêm kết mạc, tiết nhiều dịch mắt, dịch mũi, ho, sốt và giảm cân tại thời điểm 21 ngày sau khi gây nhiễm; trong khi chó đối chứng khỏe mạnh.
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh chủng virus ZJ7 được phân lập trên tế bào MDCK là có độc lực và không có sự thay đổi về trình tự nucleotide và amino acid so với chủng virus ban đầu thu được từ mẫu bệnh phẩm. Kết quả phân tích về sinh học phân tử ở đoạn gene nucleocapsid (N), phosphoprotein (P) và heamagglutinin (H) của chủng virus ZJ7 phân lập được thuộc genotpye Asia 1, genotype này hiện đang lưu hành tại Trung Quốc. Tình hình nghiên cứu bệnh Care trong nước Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện từ năm 1920. Cho đến nay, bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh và gây thiệt hại lớn do tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao (Lê Thị Tài, 2006) [9].
Ở nước ta, bệnh Care cũng được nhiều nhà thú y quan tâm. Bệnh thường thể hiện ở hai dạng: viêm phổi và viêm ruột. Khi mắc bệnh Care con vật có biểu hiện sốt rất cao trên 400C. Tất cả các giống và lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh Care, tuy nhiên giống chó ngoại và chó non thì mẫn cảm hơn…(Tô Du và Xuân Giao, 2006) [2].
Nguyễn Thị Lan và cs. Qua đó tác giả cũng chỉ ra tế bào Vero - DST là dòng tế bào thích hợp có thể sử dụng để phân lập và xác định hiệu giá virus n 8 Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs.