ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, và là nguyên nhân gây ra khoảng 10 triệu ca tử vong mỗi năm [1]. Trên toàn cầu, khoảng 1/6 trường hợp tử vong là do ung thư[1]. Số ca bệnh mới không ngừng gia tăng, vào năm 2020 có khoảng 19 triệu ca mắc mới, phổ biến là ung thư vú (2,26 triệu ca); phổi (2,21 triệu ca); đại trực tràng (1,93 triệu ca); tuyến tiền liệt (1,41 triệu ca); và dạ dày (1,09 triệu ca) [2]. Tại Việt Nam, theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization), năm 2020 có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư.
Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam là 106/100000 dân [3]. Hiện nay có nhiều biện pháp điều trị bệnh ung thư nhưng hóa trị vẫn là phương pháp phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân ung thư. Việc sử dụng hóa chất mang lại đáp ứng lâm sàng, kéo dài thời gian sống thêm và sống thêm không bệnh [4], [5], [6]. Tuy nhiên, hóa trị lại tiềm tàng rất nhiều các tác dụng không mong muốn do hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng đồng thời hủy hoại tế bào lành, đồng thời có khoảng điều trị hẹp nên gây ra tác dụng không mong muốn toàn thân cho bệnh nhân, đặc biệt là các mô/tế bào tăng sinh nhanh như tiêu hoá, tủy xương, tóc,… [7].
Dựa trên thời gian xuất hiện, tác dụng không mong muốn bao gồm cấp tính và mạn tính. Trong đó, các tác dụng không mong muốn cấp tính có thể xảy ra trên da, tóc, tủy xương và huyết học, hệ tiêu hóa hoặc thận,… Các tác dụng không mong muốn lâu dài của hóa trị bao gồm sự kháng thuốc, khả năng gây ung thư, hoặc gây vô sinh [8], [9]. Vì vậy, việc giám sát phản ứng có hại của thuốc ung thư là rất cần thiết để phòng tránh, giảm thiểu và quản lý các tác dụng không mong muốn một cách phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 là bệnh viện hạng đặc biệt, đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối toàn quân.
Với quy mô lớn và trang thiết bị hiện đại, số lượng bệnh nhân nhập viện điều trị bệnh ung thư tương đối lớn. Sau khi Bộ Y tế ra quyết định số 29/QĐ-BYT “Về việc ban hành hướng dẫn giám sát phản ứng 1 có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”, bệnh viện đã tiến hành triển khai các biện pháp can thiệp chủ động để có thông tin về các ca ADR. Vì thế, với mục đích thông qua việc giám sát ADR để có cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp nhằm phòng tránh và giảm thiểu ADR tại bệnh viện, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích một số biến cố bất lợi của hóa trị liệu điều trị ung thư đại trực tràng tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với hai mục tiêu sau: 1. Phân tích một số biến cố bất lợi trên hệ tiêu hóa của hóa trị liệu điều trị ung thư đại trực tràng tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Phân tích một số biến cố bất lợi trên hệ huyết học của hóa trị liệu điều trị ung thư đại trực tràng tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả nghiên cứu sẽ là căn cứ để chúng tôi xây dựng các biện pháp can thiệp nhằm phòng tránh và giảm thiểu ADR tại Bệnh viện. Từ đó nâng cao chất lượng trong điều trị cũng như hoạt động Dược lâm sàng tại Bệnh viện. Tổng quan về bệnh lý ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư 1.
Bệnh lý ung thư 1. Đặc điểm bệnh học ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách bất thường và không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [7]. Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u. Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, các khối u ác tính (ung thư) có khả năng xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh.
Các tế bào của khối u ác tính còn có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa, hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng như tử vong. Cùng với di căn xa, tính chất bệnh ung thư hay tái phát đã khiến việc điều trị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [7]. Ung thư không phải là một bệnh. Người ta đã biết có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người.
Những loại ung thư này tuy có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khác nhau về nguyên nhân, tiến triển bệnh, tiên lượng bệnh và phương pháp điều trị [7]. Dịch tễ bệnh ung thư Số ca ung thư mắc mới không ngừng gia tăng. Theo thống kê của GLOBOCAN vào năm 2020 có khoảng 19 triệu ca ung thư mắc mới. Trong đó, những loại ung thư có tỷ lệ mắc mới cao bao gồm: vú (2,26 triệu ca); phổi (2,21 triệu ca); đại tràng và trực tràng (1,93 triệu ca); tuyến tiền liệt (1,41 triệu ca); và dạ dày (1,09 triệu ca) [2].
Tại Việt Nam, tính chung cả hai giới nam và nữ thì các bệnh ung thư thường gặp là: ung thư gan, phổi, vú, dạ dày, đại trực tràng. Năm loại bệnh ung thư thường gặp ở nam giới là: ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tuyến tiền liệt; ở nữ giới là: ung thư vú, phổi, đại trực tràng, dạ dày, gan [3]. Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới năm 2020, Việt Nam có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư. Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam 3 là 106/100 000 dân [3], [10].
Hiện nay, chỉ có 185/204 quốc gia có báo cáo thống kê về tình hình bệnh ung thư theo GLOBOCAN. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này tương ứng của năm 2018 là 99/185 và 56/185. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [10].
Theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (The International Agency for Research on Cancer - IARC), Việt Nam có tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư đạt 40%. Tỷ lệ này chưa được như mong muốn, lý do chủ yếu là phần lớn bệnh nhân ung thư ở nước ta phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn [11].Tại Việt Nam, tính chung cả hai giới nam và nữ thì các bệnh ung thư thường gặp là: ung thư gan, phổi, vú, dạ dày, đại trực tràng. Năm loại bệnh ung thư thường gặp ở nam giới là: ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tuyến tiền liệt; ở nữ giới là: ung thư vú, phổi, đại trực tràng, dạ dày, gan [3]. Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới năm 2020, Việt Nam có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư.
Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam là 106/100 000 dân [3], [10]. Hiện nay, chỉ có 185/204 quốc gia có báo cáo thống kê về tình hình bệnh ung thư theo GLOBOCAN. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này tương ứng của năm 2018 là 99/185 và 56/185.
Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [10]. Theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (The International Agency for Research on Cancer - IARC), Việt Nam có tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư đạt 40%. Tỷ lệ này chưa được như mong muốn, lý do chủ yếu là phần lớn bệnh nhân ung thư ở nước ta phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn [11]. Chẩn đoán giai đoạn ung thư Chẩn đoán giai đoạn là đánh giá sự xâm lấn và lan tràn của ung thư, bao gồm đánh giá tình trạng tại chỗ, tại vùng và di căn xa [7].
Chẩn đoán giai đoạn có vai trò quan trọng giúp đánh giá được tiên lượng bệnh, chọn lựa phác đồ điều trị thích hợp và giám sát hiệu quả điều trị [7], [12]. 4 Có nhiều cách phân loại giai đoạn ung thư, trong đó có 2 phân loại được áp dụng phổ biến đó là phân loại theo giai đoạn và phân loại theo hệ thống TNM [13]. - Phân loại theo giai đoạn dựa trên mức độ xâm lấn của khối u, từ đó chia thành 4 giai đoạn: (I) – khối u giới hạn ở vị trí ban đầu, không có xâm lấn cục bộ; (II) – xâm lấn cục bộ; (III) – khối u lan rộng đến các hạch bạch huyết tại chỗ; (IV) – di căn xa [12]. - Hệ thống phân giai đoạn TNM của Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union for International Cancer Control) và Ủy ban liên hợp ung thư Hoa Kỳ (AJCC – American Joint Committee on Cancer) gồm ba yếu tố chính: T (Tumor): u nguyên phát; N (Node): hạch tại vùng; M (Metastase): di căn xa [13].
Các phương pháp điều trị bệnh ung thư Đặc tính chung của bệnh ung thư là phát triển tại chỗ, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn theo đường bạch huyết và di căn xa qua đường máu tới các cơ quan khác [1], [7], [11]. Chính vì vậy, điều trị bệnh ung thư phụ thuộc vào loại, giai đoạn bệnh, mô bệnh học, thể trạng người bệnh,… Các biện pháp điều trị bao gồm: phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ; xạ trị là phương pháp điều trị tại vùng; hóa chất, nội tiết, điều trị nhắm đích, miễn dịch là các phương pháp điều trị toàn thân. Hiện nay, tiếp cận chung trong điều trị ung thư thường là đa mô thức, phối hợp các biện pháp khác nhau nhằm tăng hiệu quả điều trị [7], [11], [14]. *Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng: Phẫu thuật: là phương pháp điều trị tại chỗ, cho phép loại bỏ tổ chức ung thư.
Có hai chỉ định chính là điều trị phẫu thuật triệt căn và phẫu thuật tạm thời.