ĐẶT VẤN ĐỀ Polyp đại trực tràng là bệnh lý thường gặp ở đường tiêu hóa dưới, bệnh phổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới, mọi lứa tuổi và ở cả hai giới. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh polyp đại trực tràng có xu hướng ngày càng tăng trong thời gian gần đây. Polyp đại trực tràng là một khối u lồi vào lòng đại trực tràng do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc đại trực tràng, khối u này phát triển ngày càng lớn theo thời gian, phần lớn polyp là lành tính. Triệu chứng lâm sàng của polyp đại trực tràng không điển hình mà thường biểu hiện thông qua các triệu chứng bệnh lý của đường tiêu hóa như: rối loạn tiêu hóa, tiêu ra máu, đau bụng…đôi khi cũng không biểu hiện triệu chứng nên rất khó phát hiện [10].
Tuy nhiên có nhiều nghiên cứu cho thấy: hơn 95% ung thư đại trực tràng có nguồn gốc từ polyp đại trực tràng [23]. Ung thư đại trực tràng chính là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 ở nam giới, thứ 2 ở nữ giới và chiếm khoảng 14% các trường hợp tử vong do ung thư.Nguy cơ phát triển thành ung thư của polyp đại trực tràng có liên quan đến kích thước, số lượng và đặc điểm vi thể của polyp. Kích thước polyp càng to, số lượng polyp càng nhiều thì nguy cơ phát triển thành ung thư càng cao. Đặc biệt khả năng ung thư hóa của polyp phụ thuộc nhiều vào kết quả mô bệnh học.
Một số nghiên cứu cho thấy polyp tuyến nhánh có tỉ lệ hóa ác lên tới 40-50% [25]. Chính vì vậy, việc phát hiện và cắt bỏ các polyp đại trực tràng trong giai đoạn sớm là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa các biến chứng của polyp mà nguy hiểm nhất là biến chứng ung thư hóa. Trước đây, khi chưa có nội soi đại tràng, việc chẩn đoán chính xác các bệnh lý đại trực tràng đặc biệt là polyp đại trực tràng càng có nhiều hạn chế. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ và phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật nội soi ống mềm 2 nên việc chẩn đoán, phát hiện và theo dõi bệnh nhân có polyp đại trực tràng cũng như ung thư đại trực tràng ngày càng tốt hơn.
Qua nội soi đại tràng ống mềm, ta có thể quan sát trực tiếp mặt trong của đại trực tràng, nhờ đó mà ta có thể xác định chính xác hình thái, vị trí, mức độ tổn thương của bệnh lý đại trực tràng nói chung và polyp đại trực tràng nói riêng. Đồng thời ta có thể làm một số thủ thuật như sinh thiết làm giải phẫu bệnh, cắt đốt, cầm máu… nhằm giúp cho chẩn đoán, điều trị và theo dõi sự tiến triển của các bệnh lý đại trực tràng. Trong đó nội soi và giải phẫu bệnh có vai trò chính để phát hiện sớm sự tái phát và tiến triển bất thường tại vị trí cắt polyp đặc biệt là polyp đại trực tràng. Tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, kỹ thuật cắt polyp đại trực tràng qua nội soi được áp dụng từ năm 2012 và đã gặt hái được những thành công nhất định.
Để tìm hiểu thêm về tình hình điều trị polyp đại trực tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị bằng phƣơng pháp cắt đốt nội soi polyp đại trực tràng trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2017-2018” với các mục tiêu sau: - Mô tả đặc điểm lâm sàng của polyp đại trực tràng. - Mô tả đặc điểm hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh lý của polyp đại trực tràng. - Đánh giá kết quả điều trị polyp đại trực tràng bằng phương pháp cắt đốt nội soi. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Sơ lƣợc giải phẫu đại trực tràng 1. Hình thể ngoài Khung đại tràng (ĐT) có hình chữ U ngược, chia thành: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và ống hậu môn. Có ba chỗ gấp khúc là: đại tràng góc lách, đại tràng góc gan và đại tràng sigma[16]. Giải phẫu chi tiết - Manh tràng: nằm ở hố chậu phải, tiếp nối với ĐT lên cho tới góc gan.
Phía sau liên quan với thành bụng sau, thận và niệu quản phải, phía trong liên quan với các quai ruột non, mạc nối. Trên hình ảnh nội soi thấy van hồi manh tràng (van Bauhin), lỗ ruột thừa, ba dải cơ dọc tập trung tại gốc ruột thừa [16],[22]. - Đại tràng lên: đại tràng lên nối tiếp với manh tràng, từ hồi manh tràng đi lên nhưng khi tới mặt phẳng dưới gan thì ĐT lên quặt ngang tạo thành một góc là góc ĐT phải hay góc gan. Đại tràng lên dài khoảng 12-15cm.
Trên hình ảnh nội soi thấy lòng ĐT có hình tam giác, các nếp niêm mạc dày [16], [22]. - Đại tràng ngang: từ góc gan đến góc lách, dài khoảng 45cm nằm võng xuống và ngang qua phần giữa trên của ổ bụng, ở góc lách nó gấp một góc nhọn rồi chạy ra sau và xuống dưới để trở thành ĐT xuống. Trên hình ảnh nội soi thấy lòng ĐT ngang cũng có hình tam giác xếp liên tiếp với nhau [16],[22]. - Đại tràng xuống: bắt đầu từ góc lách, chạy xuống dưới và vào trong để nối tiếp với ĐT sigma.
Khi nghiên về bên trái thì ĐT xuống là nơi thấp nhất, do đó khi đưa ống nội soi qua đây thường thấy có ít dịch còn đọng lại, đó 4 cũng là đặc điểm góp phần nhận biết ĐT xuống trong khi soi. Trên hình ảnh nội soi thấy lòng ĐT ở đây có hình ống hơn là hình tam giác, các nếp niêm mạc, các bóng phình ĐT ở đây không rõ nét nữa [13]. - Đại tràng sigma: là đoạn kế tiếp sau ĐT xuống, rất thay đổi về độ dài (13-60cm) và đường đi. Đại tràng sigma nằm trong tiểu khung, đoạn cuối chạy cong lên trên ra sau rồi gập góc xuống dưới (tạo thành cuộn kiểu alpha) để chạy lượn theo chiều cong của xương cùng xuống dưới và trở thành trực tràng.
Mặt trong ĐT sigma có nhiều nếp niêm mạc tạo ra các nếp gấp ngang, hình ảnh này cũng giúp khi soi phân biệt được với trực tràng [22]. - Trực tràng và ống hậu môn: là đoạn cuối của ống tiêu hóa, dài khoảng 15-20cm. Trực tràng gồm hai phần: phần trên là bóng trực tràng dài khoảng 12-15cm, nằm trong chậu hông bé, tiếp nối với ĐT sigma, phần dưới thu hẹp lại thành ống hậu môn và dài khoảng 3-5cm. Trực tràng không có ngấn thắt như ở ĐT, bóng trực tràng có phúc mạc bao phủ ở phía trước và hai bên, nhưng ở phía sau (cho tới chỗ nối sigma - trực tràng) là khoang sau phúc mạc.
Chỗ lật gấp của lá phúc mạc phía trước cắm sau xuống tầng sinh môn tạo thành túi cùng Douglas, cách lỗ hậu môn khoảng 7mm. Lòng trực tràng có những nếp niêm mạc lồi vào trong theo hình xoắn ốc từ trên xuống dưới tạo thành ba van Houston: hai van bên trái và một van bên phải. Phía trước trực tràng liên quan với mặt sau dưới của bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh, tiền liệt tuyến và niệu đạo đối với nam giới, tử cung và âm đạo đối với nữ giới [13],[16]. Đại cƣơng polyp đại trực tràng 1.
Định nghĩa Polyp đại trực tràng (PLĐTT) là khối u lồi vào trong lòng đại trực tràng (ĐTT) được hình thành do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc ĐTT. Bề mặt polyp có lớp niêm mạc bao phủ. Trước đây thuật ngữ polyp dùng để chỉ 5 những khối u lồi ra từ niêm mạc, do đó có những khối u bề ngoài được mô tả giống như PLĐTT như: u mỡ, u cơ, u thần kinh, giả polyp…nhưng trên giải phẫu bệnh đều không phải là polyp. Cấu tạo chung của các loại polyp bao gồm: ở trung tâm polyp có trục liên kết mạch máu, niêm mạc tuyến tăng sản, các tuyến dài ra, tế bào tuyến thường biệt hóa, loạn sản thì các tuyến bắt màu nhiều hơn, nhân tế bào to không đồng đều, có nhiều nhân chia nhưng cơ niêm còn nguyên vẹn, nó khác hẳn với polyp bị ung thư hóa: màng đáy bị phá vỡ, tế bào có nhân quái phân chia; tuy nhiên, dựa vào những đặc điểm riêng, đặc hiệu của cấu trúc vi thể, người ta có thể phân chia PLĐTT làm nhiều loại khác nhau nhưng tất cả đều có điểm chung là cấu tạo bên trong polyp chủ yếu là các thành phần của niêm mạc ĐTT [30].
PLĐTT lành tính ít ảnh hưởng lên sức khỏe người bệnh, nhưng sau đó polyp có khả năng ác hóa theo thời gian, ban đầu là nghịch sản rồi đến adenocarcinoma, cuối cùng là ung thư ĐTT xâm lấn. Giai đoạn ung thư ĐTT khó điều trị, xâm lấn và tiến triển nhanh, thậm chí gây tử vong cho bệnh nhân, chính vị vậy cần phải phát hiện và điều trị PLĐTT càng sớm càng tốt [34]. Tỷ lệ mắc PLĐTT tại Việt Nam từ khoảng 10 đến 20% dân số, nhờ sự phát triển của nội soi ống mềm và các kỹ thuật hỗ trợ mà tỷ lệ phát hiện PLĐTT ở Việt Nam ngày càng nhiều hơn [5],[25]. Hình ảnh trên nội soi 1.
Hình dạng polyp PLĐTT có nhiều hình dạng khác nhau. Theo qui ước phần polyp dính vào thành ĐTT gọi là chân hoặc cuống polyp, còn phần ở xa nhất so với chân hay cuốn gọi là đỉnh polyp, phần còn lại ở giữa đỉnh polyp và cuống là đầu polyp. 6 Cuống polyp có thể ngắn hay dài, chân polyp có thể nhỏ hoặc to hơn đầu polyp. Polyp cũng có thể có nhiều đỉnh.
Về phương diện hình dạng, người ta chia polyp làm 4 loại chính như sau: - Polyp có cuống (Pedunculate): khi phần đầu polyp lớn hơn phần chân nhiều lần và có ranh giới rõ giữa đầu và chân. - Polyp không có cuống (Sessile): khi phần chân polyp lớn hơn phần đầu. - Polyp nữa cuống: khi mà phần cuống polyp chỉ nhỏ hơn phần đầu một chút và không có ranh giới giữa đầu và cuống polyp. - Polyp dạng dẹt: khi mà phần đỉnh polyp “bằng phẳng” to bè, có khi rộng gần như phủ phần chân, có tác giả còn gọi polyp dạng dẹt là polyp có hình tấm thảm (carpet).
Ngoài ra PLĐTT còn có nhiều hình dạng khác nhau như polyp giống hình một số loại quả, polyp giống hình mào gà…[34]. Kích thước polyp Kích thước polyp thường được tính tại chỗ polyp có đường kính to nhất. PLĐTT có thể có kích thước rất nhỏ từ vài mm đến rất to > 50mm, có khi gây bán tắc hoặc làm tắc hẳn lòng của ĐTT. Theo kích thước, polyp được chia làm 3 loại [34]: - Polyp kích thước nhỏ: bé hơn 10mm.
- Polyp kích thước trung bình: 10mm-20mm.