Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm cột sống cổ 1. Xương cột sống Cột sống cổ gồm 7 đốt sống, 5 đĩa điệm và 1 đĩa đệm chuyển đoạn (đĩa đệm cổ-lưng CVII–DI), giữa đốt sống CI–CII không có đĩa đệm). Cấu tạo chung của đốt sống cổ: - Thân đốt sống: hình trụ có 2 mặt: trên và dưới, hơi lõm giữa và một vành xương đặc ở xung quanh.
Thân đốt sống cổ dẹt bề ngang, dày phía trước hơn phía sau. - Cung đốt sống: tách ra từ phần sau của mặt bên thân đốt sống, cùng với thân đốt sống tạo thành lỗ đốt sống. Cung đốt sống gồm 2 mảnh cung đốt sống và 2 cuống cung đốt sống. Hai bờ trên và dưới của mỗi cuống cung có khuyết sống trên và khuyết sống dưới, có độ sâu bằng nhau.
Khi 2 đốt sống khớp với nhau thì các khuyết đó tạo thành lỗ gian đốt sống để cho dây thần kinh gai sống chui ra. Mảnh hình vuông rộng hơn cao. - Mỏm gai từ giữa mặt sau của cung đốt sống chạy ra sau và xuống dưới. - Mỏm ngang dính vào thân và cuống bởi hai rễ giới hạn nên một lỗ gọi là lỗ ngang để cho động mạch đốt sống chui qua.
- Mỏm khớp mỗi đốt sống có 4 mỏm: hai mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới. Mỏm khớp có diện khớp phẳng nằm ngang. - Lỗ đốt sống: có hình tam giác và rộng hơn các lỗ đốt sống ngực và thắt lưng để chứa đoạn phình cổ của tủy gai và thích ứng với biên độ di động lớn của đoạn cổ [17]. Hình ảnh giải phẫu cột sống cổ [28].
- Đốt sống cổ thứ I còn gọi là đốt sống đội có đặc điểm là không có thân, nên có hình như một cái vòng với hai khối bên có hố trên khớp để khớp với lồi cầu xương chẩm và có hố khớp dưới để khớp với đốt sống cổ II [17]. Đốt sống cổ I [28]. - Đốt sống cổ II còn gọi là đốt sống trục là đốt sống dày và khỏe nhất trong các đốt sống cổ. Đặc điểm đốt sống này là có một mọc trên thân đốt sống gọi là răng.
Răng được coi như là thân của đốt đội dính vào trục để làm trục cho đốt đội quay [17]. Đốt sống cổ II [28]. - Các đốt sống từ CIII–CV có đặc điểm chung được mô tả như trên. - Đốt sống cổ CVI có đặc điểm là mỏm ngang lồi to ra thành củ cảnh.
Nó cũng là mốc gặp gỡ của động mạch cảnh chung với động mạch giáp dưới và động mạch đốt sống [17]. Hình ảnh đốt sống cổ IV và cổ VII [28]. - Đốt sống cổ CVII có đặc điểm là mỏm gai không chẻ đôi và dài hẳn ra, sờ ngay thấy được dưới da nên được gọi là đốt sống lồi. Lỗ ngang rất nhỏ, có khi không có.
- Khớp giữa các đốt sống: thuộc loại khớp dính hay khớp sụn sợi. Đĩa gian đốt sống là một đĩa sụn sợi, gồm hai phần: phần chu vi là vòng sợi và phần trung tâm là nhân thịt [17], [12]. Sụn đĩa đệm cột sống cổ [28].Các dây chằng - Dây chằng dọc trước: là một dải sợi dày, ở trên bám vào phần nền xương chẩm tới củ trước đốt đội, từ đó chạy xuống bám vào mặt trước thân các đốt sống. - Dây chằng dọc sau: bám vào bờ sau đĩa gian đốt sống và các bờ của thân đốt sống.
- Dây chằng vàng: bám vào các bao khớp và mảnh của đốt sống trên và tận hết ở bờ trên mảnh của đốt sống dưới. - Dây chằng trên gai: một thừng sợi chắc bám vào đỉnh các mỏm gai từ đốt sống cổ VII tới xương cùng. - Dây chằng gáy: đi từ ụ chẩm ngoài và mào chẩm ngoài, tận hết ở mỏm gai đốt sống cổ VII. - Dây chằng gian gai, dây chằng gian ngang.
- Động tác: uốn cột sống ra trước (gấp), ra sau (duỗi) và sang hai bên. Ngoài ra còn làm quay cột sống [12]. Cơ cột sống cổ Cơ cổ trước: cơ dài cổ. Cơ bên cột sống: cơ bậc thang trước, cơ bậc thang giữa, cơ bậc thang sau.
Cơ cổ bên: cơ bám da cổ, cơ ức đòn chũm, cơ gối cổ [12], [16], [17]. Mạch máu và thần kinh vùng cổ - Mạch máu: động mạch đốt sống xuất phát từ nhánh bên của động mạch dưới đòn đi thẳng lên chui vào lỗ ngang đốt sống cổ CVI góc giữa cơ bậc thang trước và cơ dài cổ, đi cùng động mạch có tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ. - Thần kinh cổ: có 8 đôi dây thần kinh cổ, dây thần kinh cổ khi chui ra khỏi lỗ gian đốt sống được chia thành hai nhánh; nhánh trước các dây C1-C4 tạo thành đám rối thần kinh cánh tay. Nhánh sau chi phối cho da và cơ ở sau gáy.
- Vận động: do các nhánh đám rối cổ sâu là các nhánh bên của đám rối cổ tạo nên và chi phối. - Cảm giác: các nhánh C1, C2, C3 cho nửa sau của đầu (trong đó có dây thần kinh chẩm lớn). Nhánh C4 cho vùng vai; nhánh C5, C6, C7 cho nửa quay cánh tay, cẳng tay, ngón 1, 2, 3. Nhánh C8, D1 cho nửa trụ cánh tay, cẳng tay, ngón 4, 5.
Trong thoái hóa cột sống cổ, khoảng 65% bệnh nhân có hội chứng rễ. Trong số bệnh nhân có hội chứng rễ do thoái hóa cột sống cổ thì chủ yếu là tổn thương C5, C6 khoảng 50% [8], [22]. Chức năng cột sống cổ Cột sống cổ có 3 chức năng: vận động, chịu tải trọng và bảo vệ tủy. Khoang gian đốt CII-CIII, CV-CVI là những nơi chịu tải trọng nhiều nhất cột sống cổ.
Theo Mattiash, nếu tải trọng đè xuống giữa LV-SI là 9,5kg/cm2 8 thì trên đĩa đệm giữa CV-CVI là 11,5 kg/cm2. Do đó thoái hóa cột sống cổ hay gặp ở đoạn CV-CVI [8], [22]. Lâm sàng và cận lâm sàng của thoái hóa cột sống cổ 1. Lâm sàng bệnh thoái hóa cột sống cổ Lâm sàng thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng gồm có 5 hội chứng: 1.1 Hội chứng cột sống cổ: Gặp ở 100% các trường hợp, thường xuất hiện đột ngột do vận động cột sống cổ, cúi đầu lâu, nằm gối cao, sau một ngày làm việc căng thẳng, sau tắm lạnh, thay đổi thời tiết.
Thường gồm các triệu chứng sau: Đau cột sống cổ: đau cổ thường gặp nhất khoảng 70%, kèm theo co cứng cơ cạnh cột sống cổ, cảm giác cứng gáy hoặc đau ê ẩm cổ sau khi ngủ dậy. Có điểm đau cột sống cổ, thường có xu hướng nghiêng về bên đau và vai bên đau nâng cao hơn bên lành. Hạn chế vận động vùng cổ. Hình ảnh X-Quang cột sống cổ: mất đường cong sinh lý cột sống cổ, mòn bề mặt đốt sống, gai xương, giảm chiều cao thân đốt [8].
Hội chứng rễ thần kinh cổ: Rất thường gặp với tỉ lệ khoảng 70%, chủ yếu tổn thương rễ C5 và C6. Gồm rối loạn sau: - Rối loạn loạn cảm giác kiểu rễ: đau kiểu rễ cổ là triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất, khởi phát đột ngột sau một chấn thương, đau theo cùng do một rễ thần kinh cổ chi phối, thường đau vùng gáy lan xuống liên bả vai, rồi xuống vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay: tính chất thường đau sâu trong xương, cảm giác nhức nhói khó chịu, có khi đau nhói như điện giật, trong khi đau cổ giảm thì đau vai và tay thi tăng dần, đau xuất hiện và tăng lên khi đi, đứng, ngồi lâu, vận động vùng cổ, đau giảm khi ngừng tác động lên cột sống cổ và kéo giãn cột sống cổ, điều trị nội khoa. 9 - Giảm cảm giác kiểu rễ cổ: giảm cảm giác nông do rễ thần kinh bị chèn ép chi phối đôi khi có cả rối loạn cảm giác sâu nhưng nhiều khi ranh giới vùng cảm giác không rõ ràng. Vị trí rối loạn cảm giác có giá trị chẩn đoán định khu: da vùng sau đầu trong tổn thương rễ C2, vùng gáy rễ C3, cơ thang rễ C4, vùng mỏm vai–mặt ngoài cánh tay rễ C5, ngón cái rễ C6, ngón giữa C7, ngón út C8.
Dị cảm vùng da do rễ thần kinh bị chèn ép chi phối thường có cảm giác tê bì, kiến bò, đau cháy tại vùng da do rễ thần kinh đó chi phối, đau và cảm giác tê bì thường gặp và xuất hiện sớm [8]. - Rối loạn vận động kiểu rễ: yếu một số cơ chi trên và thường hạn chế vận động do đau thường gặp là yếu dạng vai (do tổn thương rễ C5), yếu gấp cẳng tay (do tổn thương rễ C6), yếu duỗi cẳng tay (do tổn thương rễ C7), yếu gấp các ngón tay (do tổn thương C8). - Rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ: giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh bị chèn ép chi phối và teo cơ chi trên gặp trong hội chứng rễ 22,22% [8].3 Hội chứng giao cảm cổ sau: Hội chứng này chiếm 35% trong thoái hóa cột sống cổ, được Barré mô tả năm 1926. Hội chứng này xuất phát từ sự hình thành các gai xương kiểu mỏm móc vào lỗ gian đốt sống thường gặp ở CIV–CV hoặc CV–CVI gây hẹp lỗ gian đốt, chèn ép các rễ thần kinh, hạch giao cảm cổ và động mạch đốt sống [8], [22].
Biểu hiện thường gặp là đau đầu, đây là triệu chứng chính và thường không thay đổi. Đau bắt đầu như một qui luật ở vùng chẩm và lan tới vùng đỉnh-thái dương, hay thấy ở một bên, thay đổi về bản chất và cường độ khi cử động đầu, hay vào các buổi sáng. Đau thành cơn kèm theo buồn nôn, chóng mặt. Test kéo dãn cột sống cổ có thể thấy dễ chịu.
Chóng mặt kèm theo rối loạn thăng bằng khi quay đầu, nhìn lên trên, một số bệnh nhân kèm theo rung 10 giật nhãn cầu tư thế. Các biểu hiện khác cũng thường hay gặp trong hội chứng này là các rối loạn về nghe và nuốt, thường gặp 1/3 số bệnh nhân, đau tai, ù tai, khó nghe gặp trong một số tư thế nhất định của đầu [8].4 Các rối loạn về thực vật, dinh dưỡng: Các rối loạn này thường đặc trưng nhất trong thoái hóa cột sống cổ gồm: Đau đĩa đệm thường đau cố định ở gáy hoặc dưới dạng đau cơ cổ từng cơn, đau tương đối mạnh và sâu, đau thường bắt đầu sau khi ngủ và tăng khi cử động đầu, cứng gáy và hạn chế vận động cổ, các cử động đôi khi nghe tiếng “lục cục”, và báo hiệu trước đau tay [8]. Hội chứng cơ bậc thang trước thường biểu hiện đau, tê, kim châm. Đau dọc mặt trong cánh tay, mặt trước cẳng tay, bàn tay tới ngón 4, 5.
Đôi khi đau lan tới vùng chẩm, đau lan tới ngực dễ nhầm lẫn với cơn đau thắt ngực, cảm giác như kim châm, gai nhọn.