Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không hodgkin

Chuyên khảo Hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị đa u tủy xương và u lymphô á phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2014

179
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU TỰ THÂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về ghép tế bào gốc tự thân

Ghép tế bào gốc tự thân là một phương pháp điều trị tiên tiến trong y học, đặc biệt hiệu quả trong điều trị các bệnh lý huyết học như đa u tủy xươngu lymphô ác tính không Hodgkin. Phương pháp này dựa trên nguyên lý sử dụng tế bào gốc của chính bệnh nhân để tái tạo hệ thống tạo máu sau khi điều trị hóa chất liều cao. Tế bào gốc tự thân được thu thập từ máu ngoại vi hoặc tủy xương, sau đó được bảo quản và truyền lại cho bệnh nhân sau quá trình điều kiện hóa. Phương pháp này giúp giảm thiểu nguy cơ thải ghép so với ghép đồng loại và phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều bệnh nhân.

1.1. Nguyên lý và nguồn tế bào gốc

Tế bào gốc tạo máu có khả năng tự nhân lên và biệt hóa thành các dòng tế bào máu trưởng thành. Chúng thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tủy xương và có thể di chuyển vào máu ngoại vi. Nguồn tế bào gốc sử dụng trong ghép tự thân chủ yếu là máu ngoại vi, nhờ các kỹ thuật ly tách hiện đại. Quá trình điều kiện hóa trước ghép bao gồm hóa trị liệu liều cao và/hoặc xạ trị nhằm tiêu diệt tế bào ung thư và ức chế miễn dịch.

1.2. Lịch sử và phát triển

Phương pháp ghép tế bào gốc tự thân bắt đầu từ những năm 1970, với các nghiên cứu đầu tiên trên bệnh nhân u lymphô ác tính. Theo thời gian, phương pháp này đã được cải tiến với việc sử dụng tế bào gốc máu ngoại vi thay thế tủy xương, giúp giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả điều trị. Hiện nay, ghép tế bào gốc tự thân được áp dụng rộng rãi trong điều trị nhiều bệnh lý, từ ung thư máu đến các bệnh tự miễn.

II. Ứng dụng ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị đa u tủy xương

Đa u tủy xương là một bệnh lý ác tính của tế bào plasma trong tủy xương, gây ra các triệu chứng như đau xương, thiếu máu và suy thận. Ghép tế bào gốc tự thân đã trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân đa u tủy xương, đặc biệt ở những người trẻ tuổi. Phương pháp này giúp kéo dài thời gian sống thêm và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2.1. Quy trình điều trị

Quy trình điều trị đa u tủy xương bằng ghép tế bào gốc tự thân bao gồm các bước: điều trị tấn công trước ghép, huy động và thu gom tế bào gốc, điều kiện hóa, và truyền lại tế bào gốc. Các phác đồ điều trị tấn công thường sử dụng các thuốc như bortezomibVAD, giúp giảm khối u và chuẩn bị cho quá trình ghép.

2.2. Hiệu quả và kết quả

Nghiên cứu cho thấy ghép tế bào gốc tự thân giúp đạt tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn cao hơn so với hóa trị liệu thông thường. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) và thời gian sống thêm toàn bộ (OS) cũng được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn bệnh, tuổi tác và đáp ứng với điều trị tấn công trước ghép.

III. Ứng dụng ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị u lymphô ác tính không Hodgkin

U lymphô ác tính không Hodgkin là một nhóm bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết, đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của tế bào lympho. Ghép tế bào gốc tự thân được sử dụng như một phương pháp điều trị cứu cánh cho bệnh nhân tái phát hoặc kháng trị. Phương pháp này giúp tái tạo hệ thống tạo máu và tăng cường hiệu quả điều trị.

3.1. Quy trình điều trị

Quy trình điều trị u lymphô ác tính không Hodgkin bằng ghép tế bào gốc tự thân tương tự như trong đa u tủy xương, bao gồm các bước: điều trị tấn công, huy động tế bào gốc, điều kiện hóa và truyền lại tế bào gốc. Các phác đồ điều trị tấn công thường kết hợp rituximab với hóa chất để tăng hiệu quả.

3.2. Hiệu quả và kết quả

Nghiên cứu cho thấy ghép tế bào gốc tự thân giúp cải thiện tỷ lệ đáp ứng và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân u lymphô ác tính không Hodgkin. Tuy nhiên, kết quả điều trị phụ thuộc vào loại mô bệnh học, giai đoạn bệnh và đáp ứng với điều trị tấn công trước ghép.

IV. Hiệu quả và yếu tố ảnh hưởng đến ghép tế bào gốc tự thân

Hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm đáp ứng với điều trị tấn công trước ghép, số lượng tế bào gốc được huy động và thu gom, cũng như các biến chứng sau ghép. Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tuổi tác, giai đoạn bệnh và phác đồ điều kiện hóa có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị.

4.1. Yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân bao gồm: đáp ứng với điều trị tấn công trước ghép, số lượng tế bào gốc CD34+ được huy động, tuổi tác và tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Các biến chứng như nhiễm trùng và suy tủy cũng cần được quản lý chặt chẽ.

4.2. Kết quả và thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy ghép tế bào gốc tự thân giúp cải thiện tỷ lệ sống thêm và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đa u tủy xươngu lymphô ác tính không Hodgkin. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ y tế có chuyên môn cao để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không hodgkin

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU TỰ THÂN Ngày 12 tháng 09 năm 2007, giới Y học kỷ niệm 50 năm ngày E.Donnall Thomas thông báo về trường hợp bệnh nhân lơ xê mi cấp đầu tiên được điều trị phối hợp xạ trị, đa hóa trị liệu và truyền tủy của người em sinh đôi cùng trứng. Từ năm 1957, hàng loạt các nghiên cứu lâm sàng cũng như cận lâm sàng về ghép tủy đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, cũng phải tới thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhóm nghiên cứu của Thomas mới có các báo cáo chính thức về điều trị thành công cho bệnh nhân lơ xê mi cấp giai đoạn cuối bằng ghép tủy đồng loại từ người cho phù hợp sau khi điều kiện hóa bằng tia xạ toàn bộ và cyclophosphamide[1].

Năm 1978, Appelbaum FR và công sự đã thông báo về thành công của các trường hợp ghép tủy tự thân đầu tiên cho các bệnh nhân u lymphô ác tính[2]. Các tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu về ghép tủy như việc sử dụng nguồn tế bào gốc tạo máu ở máu ngoại vi, máu cuống rốn thay cho tủy xương, xây dựng các phác đồ điều kiện hóa mới, cải tiến các phương pháp phòng chống bệnh ghép chống chủ… đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tại nhiều nơi trên thế giới, góp phần gia tăng nhanh chóng số lượng bệnh nhân được ghép. Vào thời điểm 20 năm sau, năm 1998, đã có tới 17000 trường hợp ghép tủy đồng loại và hơn 30 000 trường hợp ghép tủy tự thân được thực hiện trên toàn thế giới[3]. Hiện nay, ghép tế bào gốc tạo máu đang được thực hiện tại hơn 500 trung tâm của trên 50 quốc gia.

Nguyên lý của phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu Các tế bào gốc tạo máu có khả năng tự nhân lên và khả năng biệt hóa thành tất cả các dòng tế bào máu trưởng thành. Các tế bào gốc tạo máu thường rất ít và chiếm tỷ lệ 1/104đến 1/106tế bào tủy xương. Trong giai đoạn ổn định, đa số các tế bào gốc tạo máu thường ở trạng thái nghỉ ngơi và chỉ có 4 một bộ phận nhỏ tham gia vào chu kỳ tế bào để sinh ra và biệt hoá thành các tế bào tiền thân của các dòng tế bào máu. Tế bào gốc tạo máu người có khả năng di chuyển từ máu ngoại vi đến cư trú ở tủy xương.

Sau khi định cư ở tủy xương, các tế bào gốc này tăng sinh và biệt hóa nhờ tiếp nhận các tín hiệu phát ra từ môi trường tủy xương bao gồm tổ chức đệm ngoài tế bào, các tế bào nội mô và trung mô, và tạo cốt bào. Các tế bào gốc sẽ sinh ra các tế bào gốc đa năng. Tế bào gốc đa năng sau đó sẽ sinh ra tế bào gốc dòng lymphôCLP và tế bào gốc dòng tủy CMP[4]. Tất cả những kết quả nghiên cứu về khả năng di chuyển vào tủy xương, khả năng tái tạo lại hệ thống sinh máu của tế bào gốc tạo máu đã hình thành một nền tảng vững chắc cho kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu.

Tuy nhiên, ý tưởng ghép tế bào gốc tạo máu lại xuất hiện đầu tiên là nhờ các nghiên cứu về khả năng sống sót của chuột sau khi bị tia xạ toàn thân (trừ lách) liều chết và được truyền tủy. Năm 1959 đã có nhữngthông báo đầu tiên về kết quả thử nghiệm ghép tủy trên các bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng lymphô theo quy trình tia xạ toàn thân liều cận chết và truyền tủy lấy từ anh chị em sinh đôi. Sự phục hồi thành công về mặt huyết học hai tuần sau ghép đã minh chứng cho các kết luận rút ra từ các thực nghiệm trên động vật: ghép tủy phù hợp về mặt miễn dịch có thể giúp tủy bệnh nhân phục hồi được sau khi tia xạ liều cao. Tuy nhiên, sau đó việc bệnh tái phát trở lại rất nhanh trong vài tháng đã cho thấy tia xạ đơn thuần không đủ để loại trừ bệnh ung thư.

Bên cạnh đó, một số các nghiên cứu tiếp theo cũng cho thấy nếu chỉ tia xạ đơn thuần thì có một số bệnh nhân đã có phản ứng thải ghép. Cùng với các kết quả nghiên cứu trên động vật, thất bại của những trường hợp ghép tủy đầu tiên trên người đã mang lại một kết luận vô cùng quan trọng: trong ghép tế bào gốc, để cùng một lúc đạt được hiệu quả ức chế miễn dịch và diệt tối đa các tế bào ung thư, cần có phác đồ điều kiện hóa phối hợp tia xạ với hóa chất và sau này là, trong trường hợp không tia xạ, cần phối hợp các thuốc hóa chất với liều cao [5]. Cho đến nay, định nghĩa “hóa trị liệu liều cao” vẫn còn được hiểu theo 5 nhiều cách khác nhau. Hryniuk và Bush đã đưa ra khái niệm “cường độ liều”(liều hóa chất tính bằng mg/m2da/tuần) để có thể đo lường được hiệu ứng “liều - đáp ứng”[6].

Hiệu ứng liều - đáp ứng được định nghĩa là một mối tương quan giữa hiệu quả của một thuốc hóa chất với sự tăng dần liều điều trị. Nghiên cứu này cho rằng cường độ của liều hóa chất sẽ tương quan với mức độ đáp ứng, và mức độ đáp ứng thì lại tương quan với thời gian sống thêm của người bệnh. Để giải quyết hiện tượng kháng các phác đồ hóa trị liệu chuẩn, hay nói cách khác để có được kết quả điều trị tốt cho những bệnh nhân không đáp ứng với các phác đồ điều trị chuẩn hàng 1, cần phải tăng liều hóa chất hoặc tia xạ vượt ra khỏi giới hạn gây độc tủy cho phép nhưng nằm trong giới hạn độc cho phép đối với các cơ quan quan trọng khác của cơ thể (tổn thương các cơ quan này do hóa trị hoặc xạ trị có thể gây tử vong). Dựa vào các lý luận trên, hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng các phác đồ hóa trị liệu phải được xây dựng để có cường độ liều tối đa, và nên chú trọng vào tổng liều được sử dụng trong toàn bộ thời gian điều trị hơn là cố gắng để đạt được một đỉnh liều cao nhất.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Skipper đã cho thấy tỷ lệ xuất hiện các đột biến ngẫu nhiên gây tình trạng kháng thuốc là khoảng 1/106 đến 1/107 tế bào ung thư[7]. Từ kết quả nghiên cứu này, chúng ta có thể suy luận ra là số lượng các đột biến sẽ cao nhất vào thời điểm chẩn đoán hoặc lúc tái phát là những thời điểm mà số lượng tế bào ung thư cao nhất. Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân được xem như một phương pháp hỗ trợ cho đa hóa trị liệu liều cao nhằm mục đích điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh máu ác tính không đáp ứng/kháng với các phác đồ đa hóa trị liệu chuẩn hoặc tái phát. Ghép tế bào gốc tạo máu tự thân là một biện pháp hỗ trợ hệ thống sinh máu của bệnh nhân phục hồi nhanh chóng sau đa hóa trị liệu liều cao hay nói cách khác, giúp cho phương án đa hóa trị liệu liều cao trở thành khả thi và không đe dọa tính mạng người bệnh.

Việc sử dụng đa hóa trị liệu liều cao kết hợp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cho phép loại trừ đến mức cao nhất các 6 tế bào ung thư, và như vậy sẽ hạn chế tối đa khả năng tái phát. Do có sự hỗ trợ của ghép tế bào gốc tạo máu tự thân nên, mặc dù hóa chất được dùng tới giới hạn cao nhất cho phép, tỷ lệ tử vong trong quá trình điều trị cũng thường rất thấp, khoảng 0% đến 3%. Nguồn tế bào gốc tạo máu sử dụng cho ghép Phương pháp cổ điển để thu thập tế bào gốc tạo máu là tiến hành chọc hút tủy xương nhiều lần tại vị trí gai chậu sau trên của bệnh nhân sau khi đã được gây mê hoặc gây tê tủy sống. Tủy xương chính là nguồn tế bào gốc sinh máu đầu tiên được sử dụng cho ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cũng như đồng loại.

Những biến chứng của phương pháp này thường nhẹ và tự hết sau khoảng hai tuần. Tuy nhiên, nguồn tế bào gốc sinh máu ở máu ngoại vi dần dần thay thế cho tủy xương và hiện nay đã trở thành nguồn tế bào gốc tạo máu chủ yếu phục vụ cho ghép. Hiện nay, tế bào gốc máu ngoại vi đã được sử dụng trong gần 90% các trường hợp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân[8]. Kessinger và cs và sau đó là Juttner và cs là những người đầu tiên thông báo về việc sử dụng thành công tế bào gốc máu ngoại vi để phục hồi tủy sinh máu[9][10].

Năm 1996, nghiên cứu của Schmitz và cs cho thấy,so với tế bào gốc tủy xương, tế bào gốc máu ngoại vi tăng khả năng nhận ghép, giảm nhu cầu truyền khối hồng cầu, rút ngắn thời gian phục hồi của dòng tiểu cầu, và cuối cùng là giảm số ngày nằm viện[11]. Mới đây, năm 2006, Theo de Witte và cs cũng đã tiến hành đánh giá vai trò của nguồn tế bào gốc tạo máu trong ghép tự thân điều trị rối loạn sinh tủy. Theo nghiên cứu này, kết quả điều trị không có sự khác biệt giữa hai nhóm ghép tủy và nhóm ghép tế bào gốc máu ngoại vi, nhưng, tủy sinh máu của nhóm ghép tế bào gốc ngoại vi phục hồi nhanh hơn so với nhóm ghép tủyxương[12]. Trong những điều kiện sinh lý bình thường, hầu hết các tế bào gốc sinh máu CD34+ nằm trong tủy xương.

Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều cách để “huy động” các tế bào này rời tủy xương đi ra máu ngoại vi: sử dụng các thuốc như G-CSF, GM-CSF…, phối hợp các thuốc có bản chất cytokine hoặc 7 phối hợp hóa trị liệu với các cytokine. Trên thực tế, không có phương pháp nào thể hiện hiệu quả trội hơn hẳn so với các phương pháp khác. Yếu tố kích thích sinh dòng bạch cầu hạt G-CSF có tác dụng tăng sản xuất dòng bạch cầu hạt trung tính và giải phóng các enzyme nhóm protease. Các protease lại có tác dụng phân hủy một loại protein đóng vai trò như một cái móc treo các tế bào gốc CD34+ vào tổ chức đệm của tủy xương, và như vậy sẽ giải phóng các tế bào vào tuần hoàn[13].

Hiệu quả huy động các tế bào CD34+ sẽ tăng lên nếu G-CSF được chỉ định sau hóa trị liệu. Hiện nay đang có một số thử nghiệm lâm sàng phối hợp G-CSF với AMD3100 - phân tử nhỏ có tác dụng ức chế CXCR4, một loại receptor nằm trên tế bào CD34+ đóng vai trò kết dính các tế bào này với tổ chức tủy xương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hiệu quả ghép tế bào gốc tự thân điều trị đa u tủy xương và u lymphô ác tính không Hodgkin là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị hai loại bệnh lý ác tính phổ biến: đa u tủy xương và u lymphô không Hodgkin. Nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng khoa học quan trọng về khả năng cải thiện tỷ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp điều trị tiên tiến trong ung thư.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị hiện đại, bạn có thể tham khảo thêm Luận án nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủy xương và u lymphô ác tính không hodgkin, một tài liệu chuyên sâu hơn về cùng chủ đề. Ngoài ra, Luận án đánh giá hiệu quả ghép xương cho bệnh nhân có khe hở cung hàm cung cấp góc nhìn về ứng dụng của ghép tế bào trong lĩnh vực khác. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hiệu quả của androgel bôi da trong kích thích buồng trứng ở người bệnh đáp ứng kém buồng trứng mang đến thông tin về các phương pháp điều trị sinh học hiện đại.