Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hiệu quả của androgel bôi da trong kích thích buồng trứng ở người bệnh đáp ứng kém buồng trứng

Tài liệu Hiệu quả của androgel bôi da trong kích thích buồng trứng cho bệnh nhâ tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2021

139
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đáp ứng buồng trứng

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng buồng trứng

1.3. Đáp ứng buồng trứng kém trong thụ tinh trong ống nghiệm

1.4. Vai trò của androgen trên các bệnh nhân đáp ứng buồng trứng kém

1.5. Các nghiên cứu ứng dụng liệu pháp androgen bôi da trước kích thích buồng trứng trong nước và nước ngoài

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.6. Biến số, chỉ số và cách đánh giá

2.7. Phương pháp xử lý số liệu

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.2. Hiệu quả của bổ sung testosteron bôi da trên bệnh nhân đáp ứng kém

3.3. Một số yếu tố liên quan đến kết quả bổ sung testosteron trên bệnh nhân đáp ứng kém

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.2. Bàn luận về hiệu quả bổ sung testosteron trước khi kích thích buồng trứng

4.3. Một số yếu tố liên quan đến kết quả thu được của 3 nhóm nghiên cứu

4.4. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào hiệu quả của Androgel bôi da trong kích thích buồng trứng cho bệnh nhân đáp ứng kém. Androgel, một dạng testosterone bôi da, được sử dụng để cải thiện đáp ứng buồng trứng ở những bệnh nhân có dự trữ buồng trứng thấp. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng Androgel trong 6 tuần so với nhóm không sử dụng và nhóm sử dụng 4 tuần. Mục tiêu chính là tăng số lượng noãn thu được và cải thiện tỷ lệ có thai.

1.1. Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đáp ứng kém buồng trứng là một thách thức lớn trong điều trị vô sinh, đặc biệt là trong thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). Những bệnh nhân này thường có số lượng noãn thu được thấp, dẫn đến tỷ lệ có thai thấp. Liệu pháp hormone như testosterone được đề xuất như một giải pháp tiềm năng để cải thiện đáp ứng buồng trứng. Tuy nhiên, thời gian sử dụng tối ưu của testosterone vẫn chưa được xác định rõ ràng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính: (1) Khảo sát đặc điểm của bệnh nhân đáp ứng kém buồng trứng; (2) Đánh giá hiệu quả và các yếu tố liên quan của Androgel trong việc cải thiện đáp ứng buồng trứng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng khoa học về việc sử dụng Androgel trong hỗ trợ sinh sản.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân đáp ứng kém buồng trứng tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản Quốc Gia. Ba nhóm bệnh nhân được chia ngẫu nhiên: nhóm sử dụng Androgel trong 6 tuần, nhóm sử dụng 4 tuần và nhóm không sử dụng. Các chỉ số như số lượng noãn thu được, tỷ lệ có thai và tác dụng phụ của Androgel được theo dõi và so sánh.

2.1. Đối tượng và thiết kế nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ có dự trữ buồng trứng giảm, được chẩn đoán dựa trên các chỉ số như AMH, FSHAFC. Thiết kế nghiên cứu là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả.

2.2. Phương pháp đánh giá

Các chỉ số đánh giá bao gồm số lượng noãn thu được, tỷ lệ có thai lâm sàng và tác dụng phụ của Androgel. Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định sự khác biệt giữa các nhóm.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy nhóm sử dụng Androgel trong 6 tuần có số lượng noãn thu được cao hơn đáng kể so với nhóm 4 tuần và nhóm không sử dụng. Tỷ lệ có thai lâm sàng cũng được cải thiện ở nhóm sử dụng 6 tuần. Tác dụng phụ của Androgel được ghi nhận ở mức độ nhẹ và không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bệnh nhân.

3.1. Hiệu quả của Androgel

Nhóm sử dụng Androgel trong 6 tuần có số lượng noãn thu được trung bình là 6,5, cao hơn so với nhóm 4 tuần (4,8) và nhóm không sử dụng (3,2). Tỷ lệ có thai lâm sàng ở nhóm 6 tuần là 35%, cao hơn đáng kể so với nhóm 4 tuần (25%) và nhóm không sử dụng (15%).

3.2. Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ của Androgel bao gồm kích ứng da nhẹ và tăng nhẹ nồng độ testosterone trong máu. Tuy nhiên, không có trường hợp nào ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng cần ngừng điều trị.

IV. Bàn luận và kết luận

Nghiên cứu này khẳng định hiệu quả của Androgel trong việc cải thiện đáp ứng buồng trứng ở bệnh nhân đáp ứng kém. Việc sử dụng Androgel trong 6 tuần mang lại kết quả tốt hơn so với 4 tuần và nhóm không sử dụng. Đây là một bước tiến quan trọng trong điều trị vô sinhhỗ trợ sinh sản.

4.1. Ý nghĩa lâm sàng

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về việc sử dụng Androgel trong kích thích buồng trứng cho bệnh nhân đáp ứng kém. Điều này mở ra hướng điều trị mới, giúp cải thiện tỷ lệ có thai ở nhóm bệnh nhân khó điều trị.

4.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu có một số hạn chế như cỡ mẫu nhỏ và thời gian theo dõi ngắn. Cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn để khẳng định hiệu quả và an toàn của Androgel trong dài hạn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hiệu quả của androgel bôi da trong kích thích buồng trứng ở người bệnh đáp ứng kém buồng trứng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đáp ứng buồng trứng 1. Khái niệm đáp ứng buồng trứng Đáp ứng buồng trứng là thuật ngữ chỉ sự phản ứng của buồng trứng đối với kích thích FSH mà kết quả là sự phát triển của nang noãn và chế tiết nội tiết tại buồng trứng. Mặc dù đáp ứng ban đầu của buồng trứng với KTBT là sự phát triển các nang noãn, tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng số noãn chọc hút được để đánh giá đáp ứng buồng trứng.

Đáp ứng buồng trứng cần được phân biệt với dự trữ buồng trứng. Dự trữ buồng trứng là khái niệm dùng để chỉ quần thể nang noãn nguyên thủy còn lại và khả năng sinh sản của chúng trong buồng trứng của người phụ nữ ở một thời điểm bất kỳ. Dự trữ buồng trứng phản ánh tuổi sinh sản của từng phụ nữ. Dự trữ buồng trứng có liên quan chặt chẽ với đáp ứng buồng trứng khi KTBT.

Cả dự trữ buồng trứng và đáp ứng buồng trứng đều dao động rất lớn giữa các cá thể và giữa các thời điểm khác nhau trong cùng một cá thể. Cần phân biệt hai khái niệm dự trữ buồng trứng toàn phần (TOR- total ovarian reserve) và dự trữ buồng trứng chức năng (FOR-functional ovarian reserve). Dự trữ buồng trứng toàn phần bao gồm tất cả các nang noãn ở trạng thái chưa phát triển (non-growing follicles, là các nang noãn nguyên thủy) và các nang noãn đang phát triển (growing follicles, là các nang noãn sau khi được chiêu mộ). Hầu hết các nang noãn đang phát triển sẽ tiến tới thoái hóa và chết theo chương trình, do vậy chỉ những nang noãn nguyên thủy chưa được chiêu mộ mới đại diện thực sự cho TOR còn lại12.

Tuy nhiên, trong buồng trứng của người phụ nữ ở một độ tuổi nhất định còn bao nhiêu nang noãn thì chỉ được 4 đánh giá trên buồng trứng sau khi cắt buồng trứng ra, không có biện pháp nào có thể đánh giá trực tiếp được, chính vì vậy mà không thể đánh giá được TOR của người đó. Các nang noãn phát triển trong buồng trứng của người phụ nữ có thể đánh giá được bằng các xét nghiệm khác nhau như nồng độ AMH (Anti-Mullerian Hormon), số lượng nang thứ cấp đầu chu kỳ kinh trên siêu âm (AFC - Antral Follicle Count), nồng độ FSH đầu chu kỳ kinh và được gọi là dự trữ buồng trứng nhưng thực chất chỉ là FOR và nó chỉ phản ánh một phần của các nang noãn còn lại trong buồng trứng. Chính vì vậy, các xét nghiệm đánh giá về dự trữ buồng trứng được dùng hiện nay chỉ có giá trị về dự trữ buồng trứng chức năng13 và chỉ là một phần của dự trữ buồng trứng. Trong TTTON, đáp ứng buồng trứng của bệnh nhân thường được chia thành 4 nhóm, dựa trên số lượng noãn thu được: đáp ứng quá mức (>15 noãn), đáp ứng tối ưu (10-15 noãn), đáp ứng dưới tối ưu (4-9 noãn) và đáp ứng kém (< 4 noãn)14.

Đáp ứng quá mức là yếu tố nguy cơ của quá kích buồng trứng, là một biến chứng trầm trọng khi KTBT. Đáp ứng buồng trứng tối ưu đưa đến kết quả có thai cao nhất mà tránh được các biến chứng của KTBT. Đáp ứng kém thường liên quan với kết quả thai lâm sàng thấp và tỉ lệ hủy chu kỳ cao. Dự trữ buồng trứng giảm có thể dự báo đáp ứng buồng trứng kém, tuy nhiên đáp ứng buồng trứng kém không đồng nghĩa với dự trữ buồng trứng giảm.2 Một số xét nghiệm dự đoán dự trữ buồng trứng 1.

AMH (Anti-Mullerian Hormon) AMH là một dimer glycoprotein gồm hai monomer có trọng lượng phân tử 72 KDa liên kết với nhau bằng cầu nối disulfit. AMH được các nang noãn nhỏ đang phát triển bài tiết ra. Hoạt động của AMH được khởi động 5 ngay sau khi nang noãn nguyên thủy được chiêu mộ vào nhóm phát triển và AMH có nhiều nhất ở các nang tiền hốc và có hốc nhỏ. Các nang noãn thoái hóa và nang noãn đã bước vào giai đoạn phát triển phụ thuộc FSH sẽ không còn chế tiết AMH nữa15,16.

AMH được chế tiết từ tế bào hạt diễn ra từ giai đoạn bào thai cho tới sau dậy thì, đạt đỉnh ở độ tuổi 25 và giảm dần dưới ngưỡng phát hiện ở tuổi mãn kinh. AMH được tiết ra từ các nang sơ cấp, nang thứ cấp và các nang có hốc nhưng chủ yếu do nang tiền hốc và nang có hốc nhỏ tiết ra vì vậy nồng độ AMH trong máu liên quan đến số nang noãn tiền hốc và nang noãn có hốc dưới 10 mm, nồng độ AMH phản ánh đoàn hệ nang noãn đang phát triển bao gồm cả nang noãn nguyên thủy ở giai đoạn không phụ thuộc FSH17, do đó AMH được coi là chất chỉ điểm sớm của giảm dự trữ buồng trứng (DTBT). Cùng với giảm tốc độ chiêu mộ nang noãn theo tuổi ở người phụ nữ trưởng thành nồng độ AMH cũng giảm dần theo tuổi, đến ngưỡng không thể phát hiện được vào khoảng 5 năm trước khi mãn kinh18. Nồng độ AMH tương quan chặt chẽ với tốc độ chiêu mộ nang noãn17.

Trước 25 tuổi, mối liên hệ giữa nồng độ AMH và dự trữ buồng trứng phức tạp nhưng đều có đặc điểm chung là gia tăng nồng độ AMH tương quan với sự gia tăng kích hoạt sự phát triển của các nang noãn. Sau 25 tuổi, nồng độ AMH giảm song song với giảm số nang noãn được chiêu mộ. Sự chiêu mộ của các nang noãn tối đa ở độ tuổi 15, tuy nhiên, đỉnh nồng độ AMH lại xảy ra ở độ tuổi 25. Vì vậy, việc sử dụng nồng độ AMH để giải thích tình trạng dự trữ buồng trứng của một phụ nữ trước 25 tuổi cần thận trọng19.1: So sánh AMH và số lượng NGF và tốc độ chiêu mộ NGF17.

Giảm AMH song song với giảm số nang noãn được chiêu mộ từ sau 25 tuổi. Cho tới nay, AMH là một xét nghiệm có giá trị nhất trong đánh giá dự trữ buồng trứng và có giá trị tiên lượng đáp ứng buồng trứng với kích thích bao gồm cả đáp ứng kém và đáp ứng quá mức. Giá trị ngưỡng của AMH khá thay đổi để dự đoán đáp ứng kém20 nhưng nhìn chung với giá trị < 1,0 ng/ml thì xét nghiệm AMH có độ nhạy và độ đặc hiệu là phù hợp nhất trong dự đoán dự trữ buồng trứng giảm21. Nghiên cứu của Arce và cộng sự năm 2013 công bố ngưỡng AMH ≤ 1,68 ng/ml có độ nhạy cao (92%) và độ đặc hiệu cao (83%) trong dự đoán đáp ứng kém với tiêu chuẩn số noãn thu được là ≤ 422.

Tại Việt Nam, nghiên cứu của nhóm tác giả Vương Thị Ngọc Lan và cộng sự năm 2014 cho thấy giá trị AMH tiên tượng đáp ứng kém là 1,25 ng/ml (độ nhạy 87% và độ đặc hiệu 85%)23. Mặc dù AMH có tương quan mạnh với đáp ứng buồng trứng nhưng lại không có giá trị nhiều trong tiên lượng khả năng có thai. Hai phân tích cộng gộp gần đây cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của AMH trong dự đoán thai lâm sàng và thai sinh sống trong khoảng 34,4 – 86,2% và 26 – 78,5% khi điểm ngưỡng từ 1,0 – 3,22 ng/ml24. Đáng lưu ý gần đây theo dữ liệu của SART (Society for Assisted Reproductive Technology) cho thấy phụ nữ có AMH thấp dưới 0,16 ng/ml có tỷ lệ hủy chu kỳ lên tới 7 54% nhưng tỷ lệ trẻ sinh sống mỗi chu kỳ khoảng 9,5%, chính vì vậy người ta không dựa vào nồng độ AMH để khuyến cáo trì hoãn điều trị vô sinh 25.1: Một số giá trị ngưỡng tiên lượng đáp ứng kém của AMH Cỡ Giá trị Tác giả Nghiên cứu mẫu ngưỡng Nardo và cs, 2009 Tiến cứu 165 1,0 Arce và cs, 2013 Hồi cứu 749 1,68 Vương Thị Ngọc Lan và cs, 2013 Tiến cứu 348 1,38 Vural và cs, 2014 Tiến cứu 689 0,62 Vương Thị Ngọc Lan và cs, 2016 Tiến cứu 820 1,25 1.

Nồng độ FSH đầu kỳ kinh FSH là một glycoprotein được chế tiết từ thùy trước tuyến yên, hoạt động thông qua trục hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng. FSH được điều hòa bởi nhiều yếu tố gồm inhibin, activin, estradiol và follistatin26. Khi dự trữ buồng trứng bình thường, FSH chịu sự điều hòa của trục hạ đồi – tuyến yên – buồng trứng nên nồng độ trong giới hạn bình thường. Khi buồng trứng giảm hay cạn kiệt số noãn dự trữ, nồng độ estrogen được sản xuất từ buồng trứng giảm, do đó không phản hồi âm lên vùng dưới đồi và tuyến yên sẽ làm cho tuyến yên tăng chế tiết FSH.

Nồng độ FSH được định lượng vào ngày 2 - 4 của chu kỳ kinh là một xét nghiệm đã được sử dụng từ lâu và phổ biến trong đánh giá dự trữ buồng trứng. Đa số các nghiên cứu sử dụng giá trị ngưỡng FSH > 10 IU/L (dao động từ 10 – 20 IU/L) để dự đoán dự trữ buồng trứng giảm. Độ nhạy của FSH thay đổi khá lớn giữa các nghiên cứu, từ 10 – 80%, khi dự đoán đáp ứng buồng trứng kém và giảm dần khi tuổi bệnh nhân tăng 8 lên27. Các giá trị ngưỡng được sử dụng trong các nghiên cứu đa phần có độ đặc hiệu cao (80-100%) nhưng độ nhạy thấp (10 – 30%) đưa đến việc đa số bệnh nhân được xét nghiệm FSH, kể cả những bệnh nhân giảm dự trữ buồng trứng sẽ không có giá trị FSH bất thường13.

Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng FSH có nhiều nhược điểm là nồng độ FSH dao động giữa các chu kỳ kinh và giữa các ngày khác nhau của chu kỳ kinh vì vậy định lượng FSH phải được thực hiện từ ngày 2 – 4 của chu kỳ kinh. Trong phân tích gộp của Broekmans gồm 37 nghiên cứu về giá trị của FSH trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém ghi nhận chỉ khi nồng độ FSH rất cao thì mới có độ chính xác tương đối trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém và kết quả không có thai. FSH ở nồng độ thấp không có giá trị lâm sàng trong dự đoán đáp ứng buồng trứng và FSH không có giá trị dự đoán đáp ứng buồng trứng nhiều.2: FSH dự đoán đáp ứng kém và không có thai28. Đường cong ROC cho thấy FSH có khả năng tiên lượng đáp ứng kém nhưng không có khả năng tiên lượng không có thai.

AFC (Antral Follicle Count) AFC là tổng số các nang có kích thước từ 2 – 9 mm ở cả hai buồng trứng được quan sát bằng siêu âm đầu dò âm đạo vào đầu chu kỳ kinh. Hầu hết các nghiên cứu lấy kích thước nang thứ cấp khi có đường kính từ 2 – 9 mm, một vài nghiên cứu lấy kích thước 3 – 8 mm hoặc 2- 5 mm29. AFC phản ánh số nang thứ cấp có khả năng đáp ứng với kích thích của FSH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu hiệu quả của Androgel bôi da trong kích thích buồng trứng cho bệnh nhân đáp ứng kém" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng Androgel như một phương pháp điều trị nhằm cải thiện khả năng kích thích buồng trứng ở những bệnh nhân có phản ứng kém. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ chế hoạt động của Androgel mà còn đánh giá hiệu quả lâm sàng của nó, từ đó mở ra hướng đi mới trong điều trị vô sinh. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về cách thức Androgel có thể giúp cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, cũng như những lợi ích tiềm năng mà nó mang lại cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị ntprobnp trong dự báo suy tim và tiên lượng tử vong ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da, nơi cung cấp thông tin về các chỉ số tiên lượng trong điều trị tim mạch, hay Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu hiệu quả giảm đau đường ngoài màng cứng ngực do bệnh nhân tự điều khiển bằng ropivacain kết hợp fentanyl sau phẫu thuật mở vùng bụng, giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp giảm đau trong điều trị phẫu thuật. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn và thông tin bổ ích cho bạn trong lĩnh vực y học.