Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những thay đổi sinh lý khi có thai Khi có thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu và sinh lý [7]. Thay đổi về nội tiết Ở người phụ nữ có thai, các tuyến nội tiết đều có thay đổi, đặc biệt là hai loại nội tiết cơ bản là hormon hướng sinh dục rau thai hay hCG (human chorionic gonadotropin) và các steroid. hCG hCG được tế bào nuôi tiết ra rất sớm, hai tuần lễ sau khi thụ thai, lượng hCG chế tiết trong cơ thể đã có thể phát hiện được, vì thế trong những tuần đầu của thai nghén, việc xét nghiệm phát hiện hCG sẽ giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán thai nghén [7].
Các hormon steroid - Buồng trứng: khi có thai, hoàng thể tiếp tục tồn tại và chế tiết cho đến hết tháng thứ 3, hoàng thể này gọi là hoàng thể thai nghén, dưới tác dụng của hCG sự hoạt động của hoàng thể thai nghén được duy trì, từ tháng thứ 4 trở đi hoàng thể thai nghén ngừng hoạt động, thoái triển và teo nhỏ lại. Trong thời kỳ này lượng estrogen và progesteron chủ yếu do hoàng thể tiết ra. - Bánh rau: từ tháng thứ 4 trở đi hoạt động của hoàng thể thai nghén chấm dứt, hợp bào của gai rau thai trực tiếp tiết ra estrogen và progesteron đến cuối của thời kỳ thai nghén. 4 - Thai nhi: vỏ thượng thận của thai nhi chế tiết ra DHA (dehydroandrosteron) chất này được rau thai chuyển thành estriol và đưa vào tuần hoàn của máu mẹ.
- Vỏ thượng thận: các hormon của vỏ thượng thận không thay đổi nhiều, lượng 17-cestosteroid và dehydroepiandrosteron vẫn ở mức bình thường. Các corticoid chuyển hóa đường và muối tăng lên trong khi có thai làm tăng hiện tượng giữ nước trong cơ thể. Các tuyến nội tiết khác - Tuyến yên: trong khi có thai, tuyến yên to lên khoảng 35%, nồng độ hormon phát triển tăng nhẹ, nồng độ prolactin cũng tăng đáng kể, gấp 10 lần so với người không có thai. - Tuyến giáp trạng: to lên do tăng sinh mạch máu và do tăng sản tuyến, chuyển hóa cơ bản tăng.
- Tuyến thượng thận: ít thay đổi khi có thai về hình thái học, nồng độ cortisol trong huyết tương tăng đáng kể nhưng phần lớn nó kết hợp với globulin dưới dạng transcortin. Tuy nhiên, tốc độ bài tiết cortisol của tuyến thượng thận của người phụ nữ không tăng. Khi mới có thai nồng độ ACTH giảm xuống, sau đó khi thai phát triển thì nồng độ ACTH và cortisol tự do lại tăng lên. Nồng độ Aldosteron cũng tăng lên khi có thai.
Thay đổi trong hệ tuần hoàn 1. Thay đổi về máu: Khi có thai, khối lượng máu tăng lên khoảng 50%, bắt đầu tăng trong 3 tháng đầu, tăng nhanh trong 3 tháng giữa và cao nhất vào tháng thứ 7 của thai nghén. Sau đó khối lượng máu hằng định ở những tuần lễ cuối, giảm nhanh sau đẻ và trở về bình thường. Do khối lượng huyết tương tăng nhiều hơn huyết cầu nên số lượng hồng cầu trong máu hơi giảm, tỷ lệ huyết sắc tố cũng giảm, hematocrite cũng 5 giảm, độ nhớt của máu giảm, máu có xu hướng loãng làm cho thiếu máu nhược sắc và giảm áp lực thẩm thấu.
Fibrinogen bình thường 2 - 4 g/l, khi có thai tăng lên khoảng 50% (3 - 6g/l). Nồng độ Fibrinogen tăng góp phần làm cho tốc độ lắng máu khi có thai cùng tăng lên theo. Tiểu cầu từ 300. Số lượng bạch cầu thay đổi nhiều trong khi có thai từ 5.
Trong khi chuyển dạ đẻ và sau đẻ ở những ngày đầu thời kỳ hậu sản, số lượng bạch cầu có thể lên tới 25.000 hoặc hơn nữa, trung bình từ 14. Người ta chưa rõ nguyên nhân của sự tăng số lượng bạch cầu này. Thay đổi về tim: Nhịp tim tăng lên 10 - 15 nhịp/ phút, cung lượng tim tăng lên 50% khi có thai, cao nhất vào tháng thứ 7 sau đó giảm dần cho đến khi thai đủ tháng. Trục tim xoay dần sang trái và lên cao, xoay ra phía trước do cơ hoành bị đẩy lên cao dần khi có thai.
Thay đổi về mạch máu: Các mạch máu mềm, dài và to ra, dễ giãn do đó HA động mạch không tăng. Thông thường HA hơi giảm trong 3 tháng giữa và giai đoạn đầu của 3 tháng cuối, sau đó tăng lên. Do đó khi đo thấy HA tâm thu tăng lên 30mmHg và HA tâm trương tăng lên 15mmHg trong điều kiện chuẩn là bất thường (tăng HA do thai nghén). Ngược lại, HA tĩnh mạch ở nửa dưới cơ thể tăng lên do tĩnh mạch chủ bụng bị tử cung chèn ép có thể xuất hiện trĩ và giãn tĩnh mạch ở chi dưới, ở âm hộ … 1.
Thay đổi về hô hấp - Lồng ngực cơ hoành lên cao khoảng 4cm trong khi có thai, đường kính ngang của lồng ngực tăng khoảng 2cm, chu vi lồng ngực tăng khoảng 6 6cm nhưng không đủ để ngăn cản sự giảm thể tích khí cặn trong phổi do cơ hoành lên cao. - Tần số thở: tăng lên vừa phải trong quá trình thai nghén. Người phụ nữ thường thở nhanh nông. - Thông khí: trong khi có thai, thể tích khí lưu thông tăng lên.
Bắt đầu từ tháng thứ 3 và đến khi thai đủ tháng tăng lên khoảng 40%. Thể tích khí dự trữ thở ra giảm, bắt đầu từ tháng thứ 5 đến khi đủ tháng giảm khoảng 15%. Thể tích khí cặn cũng giảm từ tháng thứ 5 đến đủ tháng giảm khoảng 20%. Hai thể tích khí này giảm dẫn đến giảm dung tích cặn chức năng.
Tuy nhiên dung tích sống trong khi có thai không thay đổi. Mức tiêu thụ O2 ở người phụ nữ có thai tăng lên khoảng 15%, tương đương cân bằng thông khí với oxy tăng khoảng 10% trong khi có thai. Nhưng thông khí phế nang tăng lên 4 lần so với mức tiêu thụ oxy. Tăng thông khí dẫn đến giảm áp suất riêng phần CO2 (PCO2), bắt đầu giảm từ tháng thứ 4 đến cuối thời kỳ thai nghén.
Thay đổi về tiết niệu Tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng lên 50%, bắt đầu từ 3 tháng giữa của thời kỳ thai nghén. Lưu lượng máu qua thận tăng lên từ 200ml lên 250ml/phút. Một thay đổi bất thường trong chức năng bài tiết của thận trong khi có thai là hiện tượng mất các chất dinh dưỡng trong nước tiểu, các acid amin và các vitamin tan trong nước tìm thấy trong nước tiểu của người phụ nữ có thai nhiều hơn so với người không có thai. Nồng độ urê và creatinin trong huyết thanh ở người có thai giảm do tăng tốc độ lọc máu ở cầu thận.
Protein niệu thường không có, do vậy khi thấy có protein trong nước tiểu là hiện tượng bất thường. Thay đổi về tiêu hóa Trong 3 tháng đầu, sản phụ hay buồn nôn, nôn và thích các thức ăn lạ, được gọi là nghén, tăng tiết nước bọt, do đó trong những tháng này sản phụ thường ăn uống kém. Từ tháng thứ 4 trở đi, các triệu chứng nghén mất đi sản phụ trở lại ăn uống bình thường. Thay đổi về thần kinh Khi có thai, người phụ nữ có các thay đổi về tâm lý, cảm xúc, hay cáu gắt, dễ thay đổi tính tình, trí nhớ giảm sút khi có thai.
Ngoài ra còn có những thay đổi về hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Những triệu chứng buồn nôn, kém ăn, mất ngủ trong những tháng đầu có thể do nguyên nhân thần kinh gây ra. Tuy nhiên các thay đổi về thần kinh đều có liên quan mật thiết với thay đổi về nội tiết. Thay đổi toàn thân - Thân nhiệt: trong 3 tháng đầu của thai nghén, thân nhiệt cao trên 370C do tác dụng của hoàng thể thai nghén.
Từ tháng thứ 4 trở đi thân nhiệt trở lại bình thường. - Trọng lượng cơ thể: trong quá trình thai nghén, trọng lượng cơ thể người phụ nữ tăng trung bình 10kg (9 – 12kg). - Thay đổi về chuyển hóa: tăng giữ nước ở ngoài tế bào và huyết tương, nguyên nhân là do tăng hút nước và muối trở lại của các ống thận, tăng tiết aldosteron và thay đổi sự kiểm soát của hậu yên đối Khi có thai, nhu cầu về sắt vượt quá nguồn sắt mà cơ thể người phụ nữ có, nồng độ canxi và Magiê giảm xuống trong khi có thai. Nồng độ lipid, liporotein apoliprotein trong huyết thanh tăng lên rõ ràng trong khi có thai.
Chuyển hóa protein tăng lên khi có thai [14]. Tiền sản giật – Sản giật 1. Tiền sản giật Tiền sản giật được định nghĩa là bệnh lý do thai nghén hoặc ảnh hưởng của một thai nghén rất gần gây nên với sự xuất hiện THA với protein niệu, có hoặc không kèm theo phù. TSG, SG thường xảy ra sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ và chấm dứt sau 12 tuần sau đẻ.
Tuy nhiên, với sự xuất hiện của bệnh tế bào nuôi, TSG có thể xuất hiện trước thời điểm đó [6]. Sản giật Sản giật xảy ra khi có những cơn co giật- hôn mê trên một bệnh nhân có hội chứng TSG mà không thể qui cơn giật này cho một nguyên nhân nào khác [7]. Sinh bệnh học của TSG: 1.Nguyên nhân Nguyên nhân gây ra TSG hiện nay còn đang thảo luận, những biểu hiện lâm sàng của TSG giống như có bệnh ở thận, hệ tim mạch, ở gan, ở mắt. Thực chất đây là biểu hiện các rối loạn bệnh ở tạng đích do thai ghén gây.
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến TSG bao gồm: con so, đa thai, đa ối, chửa trứng (biểu hiện TSG thường sớm hơn), thai nghén kèm đái tháo đường, bệnh thận mạn tính, cao HA mãn tính, tiền sử có TSG, SG [7],[64]. Những phụ nữ mang thai có trình độ văn hóa thấp, đời sống nghèo nàn, ăn uống thiếu thốn có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn [60]. Cơ chế bệnh sinh Trong thai kỳ bình thường, nguyên bào nuôi xâm chiếm các màng rụng và phần cơ của động mạch xoắn ốc làm mất cơ trơn mạch máu và các phần đàn hồi bên trong. Đường kính lòng mạch máu của động mạch xoắn ốc tăng gấp 4 lần dẫn đến việc tạo ra các ống lỏng lẻo cung cấp một lượng máu với 9 kháng lực thấp đến khoảng gian gai nhau.
Hơn nữa các động mạch tổ chức này không đáp ứng các kích thích co mạch. Những thay đổi trong mạch máu của mẹ đảm bảo lưu lượng máu đầy đủ để nuôi dưỡng thai và phát triển nhau thai [40].