ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não hay còn gọi đột quỵ là một trong mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, đứng hàng thứ ba sau tim mạch và ung thư và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế [23], [45]. Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1% dân số [23], [25]. Hiện nay, tai biến mạch máu não luôn là vấn đề thời sự của ngành y tế ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, bởi tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng cao và tỷ lệ người bị tai biến mạch máu não tăng cùng tuổi tác [4]. Thêm vào đó, tác động của tai biến mạch máu não rất to lớn, gây giảm hoặc mất khả năng sống độc lập của cá nhân người bệnh và tạo một gánh nặng kinh tế đáng kể cho gia đình và xã hội [32].
Mặc dù hiện nay đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng tỷ lệ tử vong và di chứng do tai biến mạch máu não vẫn còn khá cao ở các nước tiên tiến và rất cao ở nước ta [15]. Các di chứng của tai biến mạch máu não về lâu dài như yếu hoặc liệt vận động, teo cơ, cứng khớp, rối loạn cảm giác, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn về nuốt, sa sút trí tuệ [22]. Điều này chứng tỏ không thể phủ nhận vai trò to lớn của Y học cổ truyền trong điều trị Di chứng tai biến mạch máu não giai đoạn phục hồi. Tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ, số lượng người bệnh bị Di chứng tai biến mạch máu não do Nhồi máu não và Xuất huyết não đến nhập viện điều trị năm 2015 là 1.337 trường hợp/tổng số 3.441 trường hợp điều trị nội trú, chiếm tỷ lệ 38,85%; năm 2016, số nhập viện do đột quỵ 1.214 trường hợp/tổng số 3.840 ca điều trị nội trú, chiếm tỷ lệ 31,61%.
Việc giải quyết vấn đề điều trị phục hồi di chứng cho người bệnh sau tai biến mạch máu não là rất cần thiết và quan trọng, giúp cho người bệnh nhanh chóng hòa nhập với gia đình và xã hội. Thời gian qua đã có nhiều công trình 2 nghiên cứu về Di chứng tai biến mạch máu não, nhưng rất ít đề tài Y học cổ truyền nghiên cứu về chứng Trúng phong kinh lạc (tương ứng với giai đoạn Di chứng tai biến mạch máu não theo Y học hiện đại). Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Khảo sát các thể lâm sàng của chứng Trúng phong kinh lạc (Di chứng tai biến mạch máu não) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ năm 2017 – 2018” nhằm tìm hiểu tình hình phân loại thể lâm sàng bệnh nhân Di chứng tai biến mạch máu não điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ theo Y học cổ truyền. Về thực tiễn lâm sàng, đề tài là sự đóng góp quan trọng cho chẩn đoán, điều trị, dự phòng và chăm sóc tích cực bệnh nhân, hạn chế tối đa những di chứng sau tai biến mạch máu não.
Đồng thời về mặt giảng dạy, đề tài cũng có giá trị lớn cho sự kế thừa và phát triển Y học cổ truyền. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mô tả các thể lâm sàng của chứng Trúng phong kinh lạc ở bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ năm 2017 – 2018. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thể lâm sàng của chứng Trúng phong kinh lạc tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ năm 2017 – 2018.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh Tai biến mạch máu não trên thế giới và tại Việt Nam 1. Thế giới Từ nhiều thập kỷ đến nay TBMMN luôn là vấn đề thời sự cấp bách của y học, một thảm họa của loài người, của mọi lứa tuổi, mọi giới và mọi sắc tộc. Trên toàn thế giới, mỗi năm TBMMN cướp đi sinh mạng của 4 triệu người.
Số người sống sót di chứng nhẹ và vừa chiếm 50%, trong số này chỉ 26% trở lại nghề cũ, số còn lại phải chuyển nghề nên thu nhập thấp hoặc trở thành gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội [10]. Gần đây Tổ chức Y tế Thế giới đã cảnh báo rằng ĐQ được xem như một vấn đề sức khỏe cộng đồng chủ yếu ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ở Châu Âu, cứ 100.000 dân có 141 – 219 người mắc cơn ĐQ đầu tiên. Ở Mỹ hằng năm có khoảng 700.000 người mắc ĐQ chiếm hơn 50% các bệnh thần kinh cấp tính nằm viện, tính trung bình cứ mỗi 45 giây có một ĐQ xảy ra [12].
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, năm 1977 tại Mỹ có 1,6 triệu người bị TBMMN, tương đương với số người mắc bệnh tim do thấp và bằng ½ số người bệnh mạch vành. Hằng năm, tại Mỹ có khoảng 500.000 trường hợp TBMMN mới, phần lớn xảy ra sau 55 tuổi (Rusell, 1983) [3]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tử vong do ĐQ đứng hàng thứ hai sau bệnh tim [44]; ở Mỹ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và ung thư. ĐQ chiếm khoảng 10% toàn bộ số tử vong ở các nước phát triển và khoảng 30% bệnh nhân ĐQ chết trong 1 năm [35], [12].
Theo Russell, tỷ lệ tử vong ở giai đoạn đầu là 15% và 50% bệnh nhân sống sót bị tàn phế [3]. Tỷ lệ ĐQ tăng nhanh theo tuổi, khoảng ¼ các trường hợp xảy ra dưới tuổi 65, khoảng ½ xảy ra dưới tuổi 75. Dự báo tới năm 2025 ở Mỹ sẽ có khoảng 4 18,7% dân số mắc ĐQ (Gorelick, 2002). Vì vậy, ĐQ là một cấp cứu y tế khẩn cấp [35], [12] Những người thoát khỏi tử vong, thường để lại di chứng tàn phế nặng nề, cả về thể xác, tâm thần cũng như người phục vụ,… Hội nghị ĐQ châu Âu (1997) xác định: “Tàn phế do đột quỵ đứng hàng đầu trong các loại bệnh” [12], [35].
Việt Nam Tại Việt Nam, Tai biến mạch máu não cũng là một bệnh thời sự, vì tỷ lệ nhập viện rất cao. Trong những năm qua bệnh TBMMN nhập viện đã chiếm khoảng ½ số bệnh nhân điều trị tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy và Khoa Thần kinh Bệnh viện Nhân Dân 115 thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết các khoa cấp cứu các bệnh viện đa khoa đều có tiếp nhận cấp cứu bệnh nhân TBMMN [23]. Theo nghiên cứu của Đặng Quang Tâm (2005), nghiên cứu dịch tễ học đột quỵ não tại Cần Thơ cho thấy tỷ lệ mới mắc là 29,4/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc là 129/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 33,53/100.
Tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Cần Thơ, số lượng người bệnh bị Di chứng tai biến mạch máu não do NMN và XHN đến nhập viện điều trị năm 2014 là 1.090 trường hợp/tổng số 3.580 trường hợp điều trị nội trú, chiếm tỷ lệ 30,44% [32]; năm 2015, số nhập viện do đột quỵ 1.337 trường hợp/tổng số 3.441 ca điều trị nội trú, chiếm tỷ lệ 38,8%; năm 2016, với 1.214 trường hợp nhập viện điều trị do đột quỵ/3.840 trường hợp điều trị nội trú (tỷ lệ 31,61%). Ở Việt Nam tỷ lệ hiện mắc dao động từ 104 (ở một số quận Hà Nội) đến 106 (Huế), 157 (thị xã Hà Đông) và 409/100. Tai biến mạch máu não 1. Khái niệm TBMMN được định nghĩa như một “hội chứng thiếu sót chức năng não khu trú hơn là lan tỏa, xảy ra đột ngột, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong 5 vòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân sang chấn não”.
Định nghĩa này cũng là tiêu chí chẩn đoán lâm sàng, khởi phát đột ngột gặp 95% các tai biến, đó là tiêu chí có giá trị đặc hiệu về chẩn đoán. TBMMN có hai thể chính: chảy máu não và thiếu máu cục bộ não còn gọi là nhồi máu não; mỗi thể bao gồm nhiều thể nhỏ có đặc điểm khác nhau [14]. Phân loại Theo phân loại của Hội nghị quốc tế châu Âu ở Roma tháng 4 năm 1984, TBMMN chia làm 2 loại: xuất huyết não, nhồi máu não [6]. - Xuất huyết não Còn gọi là chảy máu trong sọ chiếm 15 – 20% các trường hợp TBMMN, là máu từ hệ thống động mạch, tĩnh mạch não chảy vào tổ chức não, ít nhiều đều tạo ổ máu tụ trong não gây ra các triệu chứng thần kinh tương ứng.
Có thể chảy máu ở nhiều vị trí trong não như vùng bao trong, vùng nhân xám trung ương, thùy não, tiểu não. Có 2 loại chảy máu não: + Chảy máu trong não (chảy máu não – não thất) chiếm 90 – 95% các trường hợp xuất huyết não. + Chảy máu khoang dưới nhện chiếm 5 – 10% xuất huyết não. - Nhồi máu não Chiếm 80 – 85% các trường hợp TBMMN, là tình trạng khi một mạch máu bị tắc nghẽn, khu vực não mà mạch máu đó cung cấp bị thiếu máu và hoại tử [26].
Các di chứng thường gặp của TBMMN Các di chứng do ĐQ não gồm: khiếm khuyết vận động, teo cơ, cứng khớp, rối loạn cảm giác, rối loạn nuốt, rối loạn ngôn ngữ, sa sút trí tuệ, sống thực vật [22], [42]. - Khiếm khuyết vận động: do yếu hoặc liệt nửa người một bên, người bệnh khó lăn trở trên giường, khó thay đổi tư thế, khó ngồi dậy và ngồi cho 6 vững, khó đứng dậy và đi lại, ngoài khó khăn di chuyển bệnh nhân còn khó thực hiện các hoạt động trong sinh hoạt hằng ngày do khó cử động tay và thân mình, các hoạt động gồm: ăn uống, rửa mặt, đánh răng, thay quần áo, tắm giặt [5]. - Co cứng/co rút/biến dạng: Co cứng: các cơ bị cứng cả lúc nghỉ ngơi, cản trở các vận động bình thường. Sờ nắn bắp cơ thấy rắn chắc hơn bình thường.
Bệnh nhân bị liệt nửa người sau vài tháng thường bị co cứng cơ. Khi cử động chi bên liệt thấy cử động bị khó, bị cứng như bị cản lại. Các cơ bên liệt co cứng và co ngắn hơn so với các cơ bên lành, nên cổ thường ngả sang bên liệt, thân mình nghiêng sang bên liệt. Tay liệt bị co cứng, các cơ gập, khép và xoay trong nên khớp vai, khớp khuỷu và cổ tay, bàn tay bị gập, khép và xoay trong.
Khi đi hông bên liệt bị kéo cao hơn bên lành. Khớp háng, khớp gối và cổ chân bị duỗi nên khi đi chân liệt có cảm giác dài hơn chân lành, hông bên liệt buộc phải nhấc cao hơn [5]. Co rút cơ: tất cả những cơ bị co cứng một thời gian dài sau đó dễ chuyển thành co rút. Cơ và mô mềm co ngắn lại gây hạn chế vận động của khớp, đau khi cử động.
Các cơ gấp ở tay và cơ duỗi ở chân hay bị co rút [5].