ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là bệnh mãn tính, phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe doạ rất lớn đối với sức khỏe của con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến phân bố gánh nặng toàn cầu [2]. Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch, thường dẫn đến các biến chứng nặng nề như: suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xuất huyết não, suy thận, giảm thị lực, mù lòa.dẫn đến ảnh hưởng lớn đến thể chất, tinh thần cũng như vật chất của người bệnh, gia đình và xã hội. Tăng huyết áp cũng là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu ở các nước đã và đang phát triển.
Năm 2008, trên Thế giới có khoảng 16,5 triệu người chết vì THA [5]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ mắc tăng huyết áp là 8-18% dân số, thay đổi từ các nước Châu Á như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24% [18]. Thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng trên 74,5 triệu người Mỹ bị THA; cứ 3 người lớn có một người bị THA [5]. Trung Quốc năm 2002 ước tính có khoảng 153 triệu người mắc THA [31].
Vì vậy, THA là vấn đề lớn đối với y tế cộng đồng đòi hỏi phải có sự can thiệp tích cực và thường xuyên [8]. Nhiều nước trên thế giới đã có chương trình quốc gia phòng chống THA. Tại Việt Nam, tần suất THA ngày càng gia tăng và đáng báo động. Theo nghiên cứu của GS.Đặng Văn Chung năm 1960 tỷ lệ THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là 1%.
Năm 1992 theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh thì tỷ lệ này là 11,7%. Năm 2002, theo điều tra dịch tễ học tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân lớn 25 tuổi thì tỷ lệ THA là 16,3% [2]. Một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (từ 25 tuổi trở lên) tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1%. Theo Tổng 7 cục Thống kê, dân số hiện nay của nước ta hiện nay là khoảng 88 triệu dân [14], thì ước tính sẽ có 11 triệu người bị THA.
Tăng huyết áp còn là nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch, nguy cơ bị đột quỵ tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người không bị THA. Nguy cơ tử vong cũng tăng gấp đôi khi số HA tăng mỗi 20 mmHg huyết áp tâm thu và 10 mmHg huyết áp tâm trương [5],[2]. Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tại 4 tỉnh phía Bắc năm 2003 cho thấy, THA là nguyên nhân hàng đầu (10%) gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn Việt Nam. 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim mạch (2005) có liên quan với THA và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai (2003) có nguyên nhân là THA.
Tăng huyết áp còn gây ra nhiều tai biến nguy hiểm đến tính mạng con người như cơn THA ác tính. Vì vậy, người ta coi “Tăng huyết áp là kẻ giết người thầm lặng”! [30]. Tăng huyết áp ở người lớn đại đa số 90 - 95% là không có căn nguyên, chỉ một số nhỏ 5-10% là có căn nguyên [36]. Hầu hết các bệnh nhân bị THA (trên 90%) thường không có dấu hiệu nào cảnh báo trước.
Do vậy, rất nhiều người bệnh khi đã bị các biến chứng của THA, thậm chí tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ việc khống chế tốt THA là quan trọng thế nào [5],[3]. Tăng huyết áp là bệnh mãn tính, phải điều trị đầy đủ, liên tục, lâu dài. Nếu không được điều trị tốt sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, nguy hiểm tính mạng hoặc không hồi phục, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc điều trị THA làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và khoảng 15% nguy cơ NMCT.
Nhưng thực tế vấn đề kiểm soát huyết áp cũng rất khó khăn. Tại Hoa kỳ năm 2006, có khoảng 77,6% là được biết bị THA. Trong số BN bị THA chỉ có 67,9% được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt HA [5]. Năm 2002, Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5.012 người từ 25 tuổi trở lên ở 4 tỉnh miền Bắc Việt Nam (Nghệ An, Hà Nội, Thái Bình và Thái Nguyên) kết quả 8 trong 818 người được phát hiện có THA, chỉ có 94 người là dùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chế tốt là 19,1% [18].
Cũng theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002 cho thấy THA ở người trẻ ít được chú ý hơn ở người có độ tuổi cao hơn cho dù hiệu quả điều trị đạt được là dễ dàng hơn [18]. Với các lý do trên, việc tuân thủ trong điều trị nhằm khống chế được THA là rất quan trọng và cần được quan tâm. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp tại cộng đồng và các yếu tố liên quan của bệnh nhân 25 – 60 tuổi ở 4 phƣờng của Thành phố Hà Nội, năm 2011”, để tìm hiểu việc tuân thủ trong quá trình điều trị của BN THA tại cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giúp BN kiểm soát tốt THA, tránh các tai biến nguy hiểm, làm giảm gánh nặng bệnh tật cho gia đình và xã hội. 9 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể 1.
Mô tả thực trạng tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp tại cộng đồng của bệnh nhân 25 – 60 tuổi ở 4 phường của Hà Nội, năm 2011 2. Xác định một số yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại cộng đồng của bệnh nhân 25 – 60 tuổi ở 4 phường của Hà Nội, năm 2011 10 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.1 Một số vấn đề về tăng huyết áp 1.1 Một số khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp 1.1 Định nghĩa huyết áp (HA): là áp lực ở trong lòng động mạch góp phần giúp cho máu được luân chuyển trong động mạch tới các mô và cơ quan. Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) là do lực co bóp của tim tạo nên. Huyết áp của chúng ta ở mức cao nhất khi tim co bóp.
Trái lại huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương) là do trương lực thành mạch tạo nên (và trong thời kỳ tim giãn – tâm trương). Huyết áp bị ảnh hưởng bởi tim (sức co bóp và nhịp đập); độ của máu; thể tích máu lưu thông và bản thân thành mạch (sức đàn hồi). Theo tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp bình thường đo ở cánh tay là ≤ 120/80mmHg. Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu tố khác…[5].2 Định nghĩa tăng huyết áp: là khi huyết áp của bạn thường xuyên cao hơn mức bình thường (huyết áp tâm thu và/ hoặc huyết áp tâm trương).
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, THA khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [5],[30]. Tăng huyết áp có thể là tăng cả huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, hoặc chỉ tăng một trong hai dạng đó. Các chỉ số huyết áp 120-139/80-90 mmHg, JNC VII không coi là bình tường nữa mà gọi là “Tiền tăng huyết áp” nghĩa là sau này có nguy cơ bị tăng huyết áp thật sự cao gấp 2 lần so với người có huyết áp bình thường là < 120/80mmHg.3 Chẩn đoán tăng huyết áp Chẩn đoán xác định THA: dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình. Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi theo từng cách đo huyết áp [3].
11 Bảng 1: Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trƣơng Nội dung (HATT) (HATTr) Cán bộ y tế đo theo đúng ≥140 mmHg ≥ 90 mmHg quy trình Đo bằng máy đo HA tự ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg động 24 giờ Tự đo tại nhà (đo nhiều ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg lần) 1.4 Chuẩn đoán mức độ THA: Dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được Bảng 2: Phân độ tăng huyết áp Phân độ HA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trƣơng (mmHg) HA tối ưu < 120 < 80 HA bình thường 120 - 129 80 - 84 Tiền THA 130 – 139 85-89 THA độ I ( nhẹ) 140 – 159 90 – 99 THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 100 – 109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90 Phân độ THA dựa vào chỉ số HATT và HATTr hoặc chỉ một trong hai dạng đó. Khi HATT và HATTr không cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức biến động của HATT [3].5 Các phƣơng pháp đo huyết áp a, Các loại máy đo huyết áp Trị số HA có thể khác nhau ở các thời điểm trong ngày và giữa các ngày, do vậy phải đo HA nhiều lần và vào các thời điểm khác nhau. Tất cả người lớn nên đo HA ít nhất 5 năm một lần.
Với người có HA bình thường cao hoặc những người có con số HA cao bất kể lúc nào trước đó thì nên đo lại hàng năm. Nếu HA chỉ tăng nhẹ, chúng ta nên đo nhiều lần theo dõi trong nhiều tháng vì có thể chúng sẽ giảm xuống đạt đến ngưỡng bình thường. Nếu các bệnh nhân có HA tăng cao đáng kể, có biểu hiện tổn thương cơ quan đích do THA hoặc có bằng chứng nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao, nên đo HA lại sau thời gian ngắn (ví dụ: sau vài tuần hoặc vài ngày). Đo HA có thể được thực hiện bởi bác sỹ hoặc y tá tại văn phòng hoặc tại cơ sở lâm sàng (HA tại phòng khám hoặc tại bệnh viện), hoặc tự đo bởi bệnh nhân tại nhà hoặc được đo bằng HA lưu động 24 giờ.
Huyết áp kế thuỷ ngân Thiết kế của HA kế thủy ngân ít có thay đổi trong suốt 50 năm qua, ngoại trừ máy HA hiện nay không để chảy thủy ngân ra ngoài. HA kế thủy ngân thường chính xác hơn các phương tiện đo khác và không có sự khác biệt về độ chính xác của các hãng sản xuất khác nhau.