Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, định nghĩa Sức khỏe: “Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc đau yếu” theo Tổ chức Y tế (WHO) định nghĩa. Tình trạng sức khỏe tốt có hàm ý là con người đạt được sự cân bằng động với môi trường xung quanh.[22] Đối với cá nhân, tình trạng sức khỏe tốt là chất lượng cuộc sống của họ được cải thiện, ít bị đau ốm, ít khuyết tật; cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội hạnh phúc; cá nhân có cơ hội lựa chọn trong công việc và nghỉ ngơi. Đối với cộng đồng, có tình trạng sức khỏe tốt có nghĩa là chất lượng người dân cao hơn; người dân có khả năng tham gia tốt hơn trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phòng bệnh, hoạch định chính sách về sức khỏe.
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận[11]. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh[11]. Sử dụng dịch vụ KCB: Là khả năng những người khi có tình trạng sức khỏe bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB được mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các CSYT công lập hay y tế tư nhân cung cấp. Tính sẵn có của dịch vụ y tế: đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của mọi người dân.
Tại các cơ sở y tế tính sẵn có được đánh giá qua các tiêu chí thời gian hoạt động của CSYT được đảm bảo, các dịch vụ được triển khai đầy đủ theo Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30/8/2005 của Bộ Y tế vế việc quy định phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh. Mắc bệnh/ốm: là tất cả những người có tình trạng bất thường vế sức khỏe, các vấn đề bất thường này gây ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường hàng ngày như ăn uống đi lại, giao tiếp, lao động, … kéo dài trong thới gian ít nhất từ một ngày trở lên [2]. Trường hợp bệnh trong nghiên cứu này là những người có mắc ít 5 nhất một bệnh hoặc triệu chứng của bệnh nào đó tong 3 tháng và 12 tháng qua kể từ khi bắt đầu điều tra làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, lao động, học tập hàng ngày của bản thân và gia đình. Bệnh cấp tính: Bệnh khởi phát nhanh, thường có triệu chứng lâm sàng và kéo dài trong một thời gian ngắn, có biểu hiện bệnh trong khoảng thới gian 15 ngày nghiên cứu [1].
Bệnh mạn tính: Bệnh thường khởi phát từ từ, có hoặc không có các triệu chứng lâm sàng, kéo dài lâu và thay đổi rất chậm, được xác định qua khám bệnh hoặc các xác nhận trong y bạ, đơn thuốc của bác sỹ [1]. Cơ sở khám, chữa bệnh: Là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh [3] Dân tộc thiểu số: là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[19]. Khu vực y tế nhà nước bao gồm các cơ sở y tế nhà nước: bệnh viện các tuyến, trung tâm y tế, trạm y tế, phòng khám khu vực/lưu động và cơ sở y tế nhà nước khác. Khu vực y tế tư nhân bao gồm các cơ sở y tế tư nhân: bệnh viện/ phòng khám tư, thầy thuốc tư, nhà thuốc tư, phòng khám tư lưu động và cơ sở y tế tư nhân khác.
Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 5 tuổi 1. Trên thế giới Một thách thức dai dẳng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển là mức độ tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là thấp hoặc rất thấp mặc dù các dịch vụ y tế, các phương pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh ở trẻ em là có sẵn và dễ tiếp cận. Theo phát hiện từ một cuộc đánh giá có hệ thống, việc tìm kiếm sự chăm sóc từ nhân viên y tế cộng đồng đối với bệnh tiêu chảy, viêm phổi và sốt rét là rất thấp ở các nước đang phát triển [40]. Pascal Geldsetzer và cộng sự tiến hành một tổng quan hệ thống năm 2013 nhằm xác định tỷ lệ người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình có thể nhận ra bệnh ở con mình và tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức 6 khỏe cho trẻ.
91 nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí thu nhận. 18 nghiên cứu báo cáo dữ liệu về sự nhận biết bệnh tật của người chăm sóc và 77 nghiên cứu cung cấp dữ liệu về việc tìm kiếm dịch vụ y tế cho trẻ dưới 5 tuổi. Trung bình 73,0% người chăm sóc tìm kiếm chăm sóc bên ngoài gia đình cho trẻ. Tìm kiếm sự chăm sóc từ nhân viên y tế cộng đồng (trung bình: 5,4% đối với tiêu chảy, 4,2% đối với bệnh viêm phổi và 1,3% đối với bệnh sốt rét) và sử dụng liệu pháp bù nước bằng đường uống (trung bình: 34%) là thấp [40].
Nghiên cứu của Kerry K Hall và cộng sự về việc sử dụng dịch vụ y tế của trẻ em dưới 5 tuổi đã đăng ký với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Đông Nam Queensland từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 11 năm 2015 cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế chung là 52,5/100 trẻ-tháng (KTC 95% 48,7-56,5); 81% các cuộc gặp gỡ là với các bác sĩ đa khoa. Tỷ lệ biểu hiện bệnh hô hấp cấp tính cao nhất (30,7/ 100 trẻ-tháng, KTC 95% 27,8-33,9) [43]. Dữ liệu về 247.061 trẻ em dưới 5 tuổi được trích xuất từ các cuộc Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe được thực hiện từ năm 2012 đến năm 2016 tại 25 quốc gia. Dữ liệu được phân tích cho 4 tiểu vùng Tây Phi, Trung Phi, Nam Phi và Đông Phi.
Tỷ lệ trẻ em bị tiêu chảy và có các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được chăm sóc tại các cơ sở y tế ở các tiểu vùng tương ứng là: Tây Phi 42,4 và 44,1%; Trung Phi 32,6 và 33,9%; Đông Phi 41,5 và 48,7% và Nam Phi 58,9 và 62,7%. Trẻ em có mẹ là con dâu / con dâu chủ hộ ít được đưa đến cơ sở y tế để điều trị tiêu chảy ở Đông Phi (AOR = 0,81, CI: 0,51-0,95). Có mẹ là chủ hộ có liên quan đáng kể đến tỷ lệ được chăm sóc tại cơ sở đối với các triệu chứng ARI đối với trẻ em từ phương Tây (AOR = 1,20, CI: 1,02-1,43) và Nam Phi (AOR = 1,49, CI: 1,20-1,85) [31] Nghiên cứu của Page và cộng sự về hành vi tìm kiếm DVYT cho trẻ dưới 5 tuổi bị mắc tiêu chảy tại vùng nông thôn Niger. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy để tìm hiểu nhu cầu chăm sóc y tế thích hợp, từ đó thiết lập giám sát bệnh tiêu chảy.
Người chăm sóc được hỏi về bệnh tiêu chảy và hành vi tìm kiếm DVYT trong trường hợp bị tiêu chảy. Nghiên cứu cho thấy thời gian mắc bệnh tiêu chảy và tiêu chảy cấp là giữa tháng tư và tháng năm, 7 tương ứng với tỷ lệ mắc bệnh là 36,8% và 3,4%. Trong đó dưới 10% trẻ được đưa tới bệnh viện [50] Một nghiên cứu về sử dụng dịch vụ sức khỏe răng miệng trên đối tượng trẻ em 3- 5 tuổi tại tỉnh Giang Tây, Trung Quốc năm 2018 chỉ ra tỷ lệ trẻ được đi khám là 12,33% (355/2880), trong khi tỷ lệ đi khám của trẻ em mắc bệnh răng miệng là 17,31% (266/1537). Ba lý do hàng đầu khiến bệnh nhân không đến gặp nha sĩ là: răng trẻ em không có vấn đề gì, tổn thương răng ở mức độ tối thiểu đáng kể và răng chính sẽ được thay thế mà không cần điều trị [49] Một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng được thực hiện tại Quận Jeldu từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2011.
Phương pháp chọn mẫu có hệ thống được sử dụng để chọn mẫu. Dữ liệu được thu thập từ 422 người chăm sóc trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh trong vòng sáu tuần trước cuộc khảo sát. 74,6% trẻ em được các cơ sở y tế chăm sóc trong mọi điều kiện. Tuy nhiên, chỉ 55,4% trong số họ được đưa đến cơ sở y tế để điều trị đầu tiên trong thời gian ốm và được chăm sóc kịp thời cũng rất thấp (13,7%)[46] 1.2 Tại Việt Nam Việt Nam, quốc gia đầu tiên ở châu Á và trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em năm 1990.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn dành mối quan tâm lớn cho đối tượng trẻ em, luôn hướng tới đảm bảo mọi trẻ em đều khỏe mạnh, an toàn và được tiếp cận với các dịch vụ y tế phù hợp, kịp thời. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu về thực trạng sử dụng dịch vụ y tế ở trẻ em, trong đó có nhóm trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam chưa nhiều. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Hoa (2008) về tình hình ốm đau và sử dụng DVYT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2008 kết luận: tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi được khai báo có ốm đau là 77,8% trong năm 2008. Hai triệu chứng gặp phổ biến nhất là ho (68,3%) và sốt (62,1%).
Khi trẻ bị ốm thường được cho đi khám bệnh tại các CSYT tư nhân (41,4%), tiếp theo là nhà thuốc (32,3%), bệnh viện (22,9%) và TYT xã (20,6%). Nghiên cứu của Vũ Minh Thúy về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng DVYT cho trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 8 2011 - 2012 đã chỉ ra rằng: Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi ốm trong vào 4 tuần nghiên cứu là cao chiếm tới 43,4%. Trong nghiên cứu tất cả trẻ ốm đều được điều trị, tỷ lệ tự mua thuốc về chữa trị cao 39,2%; tỷ lệ đưa trẻ đến các TYT khi ốm là 25,6%; được đưa đến bệnh viện huyện là 7,5%, đưa đến bệnh viện truyến trên là 8,5%; đến các CSYT tư nhân là 19,2% [23].