ĐẶT VẤN ĐỀ Bảo hiểm y tế xã hội là một chính sách an sinh xã hội do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện không vì mục đích lợi nhuận, nhằm huy động sự đóng góp của ngƣời sử dụng lao động, các tổ chức, cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh (KCB) cho những ngƣời gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật. Sau 25 năm thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, nhất là sau gần 10 năm thực hiện Luật BHYT, Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả đáng khích lệ, đang từng bƣớc tiếp cận mục tiêu BHYT toàn dân, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm ổn định chính trị - xã hội [2]. Tại Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2016 cả nƣớc có 75,93 triệu ngƣời tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT 81,7% dân số, trong đó ngƣời DTTS tham gia BHYT là 5,07 triệu ngƣời, chiếm tỷ lệ 6,75% tổng số ngƣời tham gia BHYT trên toàn quốc [21], [28]. Tỷ lệ ngƣời DTTS sử dụng BHYT để khám chữa bệnh không cao trong khi gần nhƣ chắc chắc tình trạng sức khỏe, bệnh tật của ngƣời DTTS rất cần đƣợc quan tâm, hỗ trợ bởi các cơ sở y tế, sự hiểu biết về lợi ích cũng nhƣ cách sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong một bộ phận ngƣời DTTS chƣa đầy đủ; điều kiện kinh tế khó khăn; tâm lý ngại đi xa, trong khi khoảng cách đến các cơ sở y tế rất xa, đi lại gặp nhiều khó khăn, hạn chế về phƣơng tiện…[41] Đăk Xú là một xã miền núi, nằm ở phía Tây huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, có đƣờng biên giới với nƣớc bạn Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dài 47 km, diện tích tự nhiên là 12.247 ha, 08/14 thôn có đồng bào DTTS sinh sống.
Tổng dân số xã năm 2017 là 7.785 ngƣời, chiếm 13% dân số toàn huyện, trong đó ngƣời DTTS chiếm tỷ lệ 64,4% dân số toàn xã. Địa bàn cƣ trú của đồng bào DTTS có địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, điều kiện kinh tế khó khăn, trên 90% làm nông nên có thu nhập bấp bênh, công việc lao động nặng nhọc có nhiều nguy cơ cao về bệnh tật, rủi ro, tai nạn lao động,. Từ khi Quyết định số 582/QĐ-TTg, ngày 28/4/2017 của Thủ tƣớng Chính phủ [13] có hiệu lực, thì xã Đăk Xú trƣớc đây thuộc khu vực III nay là khu vực I nên các đối tƣợng là ngƣời DTTS tại xã Đăk Xú không đƣợc nhà nƣớc cấp thẻ 2 BHYT miễn phí từ ngày 01/8/2017. Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều ngƣời DTTS sinh sống tại xã không có BHYT (từ ngày 31/7/2017 trở về trƣớc số thẻ BHYT của ngƣời DTTS là 5.013 thẻ, đạt 100% tổng số DTTS toàn xã), nhƣng từ ngày 01/8/2017 giảm xuống còn 986 thẻ (đạt 35,1% tổng số ngƣời dân có tham gia BHYT), gây tâm lý lo lắng cho ngƣời dân không có điều kiện tham gia BHYT theo HGĐ.
Trong 986 thẻ BHYT ngƣời DTTS tại xã đƣợc phân bố gần đồng đều cho tất cả 8 thôn, trong đó về phân loại hình thức: có 366 thẻ BHYT hộ gia đình, 404 thẻ hộ nghèo, 151 thẻ hộ cận nghèo và 65 thẻ gia đình chính sách/có công; về phân loại thẻ BHYT theo thành phần dân tộc: có 576 ngƣời dân tộc Xơ Đăng, 410 ngƣời có thẻ là ngƣời dân tộc Mƣờng, Tày, Thái,… [17]. Đã có nhiều nghiên cứu về độ bảo phủ BHYT tại Việt Nam nhƣng chƣa có nghiên cứu nào thực hiện đối với đối tƣợng là ngƣời DTTS tại tỉnh Kon Tum nói chung và huyện Ngọc Hồi nói riêng. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế và một số yếu tố liên quan của ngƣời dân tộc thiểu số tại xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum năm 2018”, để mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc tham gia BHYT của ngƣời DTTS đồng thời cung cấp góc nhìn về những khía cạnh của chính sách an sinh xã hội quan trọng; góp phần đƣa ra các giải pháp hợp lý và khả thi giúp khả năng tiếp cận chính sách BHYT, nâng cao tỷ lệ bao phủ BHYT của ngƣời DTTS tại địa phƣơng, bảo đảm nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của ngƣời dân tộc thiểu số tại xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum năm 2018. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc tham gia bảo hiểm y tế của ngƣời dân tộc thiểu số tại xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum năm 2018. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, quy định, tiêu chí, phƣơng pháp đánh giá liên quan đến nội dung nghiên cứu 1.
Khái niệm về bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế xã hội là hình thức bảo hiểm bắt buộc đƣợc áp dụng đối với các đối tƣợng theo quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT để chăm sóc sức khỏe (CSSK), không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện [9]. Đây là định nghĩa đƣợc sử dụng trong các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng nhƣ Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Lao động quốc tế [45], [50], [52]. Quỹ BHYT xã hội đƣợc hình thành từ nguồn đóng góp của ngƣời lao động, chủ sử dụng lao động và Chính phủ. Nguồn tài chính từ quỹ BHYT xã hội đƣợc coi là nguồn tài chính công, có vai trò đặc biệt quan trọng để đảm bảo công bằng trong đóng góp tài chính y tế thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro [31].
Khái niệm BHYT ở đây đƣợc hiểu là BHYT xã hội. Bảo hiểm y tế toàn dân là chƣơng trình BHYT xã hội bao phủ đƣợc toàn bộ dân số. Trong một số trƣờng hợp, có thể công bố đạt đƣợc mục tiêu bao phủ toàn dân khi tỷ lệ bao phủ dƣới 100%, nhƣng với điều kiện những ngƣời chƣa có BHYT phải đƣợc bảo vệ trƣớc rủi ro bệnh tật bằng những cơ chế tài chính an toàn khác [30]. BHYT thương mại, BHYT tư nhân là hoạt động kinh doanh BHYT vì lợi nhuận; mức phí BHYT đƣợc xác định theo xác suất rủi ro mắc bệnh của ngƣời hoặc nhóm ngƣời tham gia BHYT.
Khác với BHYT xã hội, quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT thƣơng mại tùy thuộc vào mức phí BHYT đã đóng. Nhà nƣớc thƣờng không tổ chức kinh doanh loại hình BHYT thƣơng mại mà để cho tƣ nhân kinh doanh, nên còn gọi là BHYT tƣ nhân. BHYT thƣơng mại là hình thức BHYT tự nguyện, nên ở một số nƣớc, BHYT thƣơng mại còn đƣợc gọi là BHYT tự nguyện [30]. 5 Nguyên tắc bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế có 5 nguyên tắc chính: - Thứ nhất: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những ngƣời tham gia BHYT.
- Thứ hai: Mức đóng BHYT đƣợc xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lƣơng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH (gọi chung là tiền lƣơng tháng), tiền lƣơng hƣu, tiền trợ cấp hoặc mức lƣơng cơ sở. - Thứ ba: Mức hƣởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tƣợng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia BHYT. - Thứ tƣ: Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và ngƣời tham gia BHYT cùng chi trả. - Thứ năm: Quỹ BHYT đƣợc quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ [9].
Các loại hình bảo hiểm y tế ở Việt Nam Hiện nay, tại Việt Nam có hai loại hình BHYT: - BHYT xã hội, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận và đƣợc nhà nƣớc tổ chức thực hiện theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014. Mọi ngƣời dân phải bắt buộc tham gia BHYT theo Luật BHYT [8]. - BHYT thƣơng mại (bảo hiểm sức khỏe của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ) mang tính kinh doanh, hoạt động có lợi nhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010. Hiện tại có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong nƣớc và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài triển khai loại hình BHYT này [7], [33].
Sự khác nhau giữa bảo hiểm y tế xã hội và bảo hiểm y tế thƣơng mại Tiêu chí Bảo hiểm y tế xã hội Bảo hiểm y tế thƣơng mại Mức phí Theo khả năng đóng góp Theo nguy cơ rủi ro ốm của cá nhân (theo thu đau của đối tƣợng tham gia nhập) bảo hiểm Mức hƣởng Theo nhu cầu chi phí Theo số tiền mà cá nhân đã khám chữa bệnh thực tế. đóng góp khi tham gia bảo Không phụ thuộc mức hiểm (đóng nhiều hƣởng đóng nhiều, đóng ít hƣởng ít) Vai trò của nhà nƣớc Có sự bảo trợ của nhà Thƣờng không có sự hỗ trợ nƣớc tài chính từ phía nhà nƣớc Hình thức tham gia Bắt buộc Tự nguyện Mục tiêu hoạt động Vì chính sách xã hội. Hầu hết là kinh doanh. Không kinh doanh vì lợi Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nhuận 1.
Chính sách bảo hiểm y tế Việt Nam Quá trình thực hiện chính sách BHYT từ năm 1992 đến năm 2018 đã đạt đƣợc nhiều thành tựu hết sức quan trọng. Tuy nhiên, với tỷ lệ bao phủ vẫn còn thấp ở một số vùng và một số đối tƣợng, cản trở đến việc thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân. Đây là thách thức lớn đòi hỏi phải xây dựng phƣơng án và đƣa ra giải pháp đồng bộ và cụ thể, thiết thực phù hợp với sự phát triển của xã hội, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội (BHXH), BHYT giai đoạn 2012 - 2020 [26], về lĩnh vực BHYT đã đƣợc cụ thể hóa bằng Quyết định số 538/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt đề án lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020 [39], với mục tiêu chung: “Mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT về tỷ lệ dân số tham gia BHYT, về 7 phạm vi dịch vụ y tế đƣợc thụ hƣởng và giảm tỷ lệ chi trả từ tiền túi của ngƣời sử dụng dịch vụ y tế; bảo đảm quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT; tiến tới BHYT toàn dân, góp phần tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác CSSK nhân dân theo hƣớng công bằng, hiệu quả, chất lƣợng và phát triển bền vững”.