Chương 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÒNG CHÓNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VUC BẢO HIẾM Y TE 1. Những van đề lý luận về tham nhũng và phòng chống tham nhũng 1. Lí luận về tham nhũng 11. Khái niệm, đặc điểm, bản chất, phân loại tham những a) Khai niệm Tham nhũng là một hành vi trái pháp luật, làm băng hoại các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Về ngữ nghĩa, nguồn gốc của từ “tham những” là từ ghép của từ “tham ” và từ “những”. “Tham” là ham muốn một cách thái quá, không biết chán, không biết giới hạn; “nhiing” là làm ray rà, phiền hà. Xét về lý thì dé thỏa mãn hay đạt được “ham muốn một cách thái quá, không biết chán” thì phải “làm ray rà, phiên ha”. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham những được hiểu là hành vi lạm dụng quyền lực được giao phó để thu lợi riêng.
Tham nhũng có ban chất bắt nguồn từ quyền lực không được kiểm soát dẫn đến việc chủ thé tham nhũng có cơ hội để thực hiện hành vi. Quyền lực bị lạm dụng có thể là quyền lực công hoặc quyền lực tư vì tham nhũng có thê xuất hiện cả trong khu vực tư. Tham nhũng có bản chat là hành vi với lỗi cố ý, người tham nhũng biết hoặc phải biết về hành vi của mình là sai trái nhưng đã có tình thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc cô ý để mặc cho hậu quả xảy ra. Tham nhũng thường được thực hiện bởi người có chức vụ quyền hạn, những đối tượng này là những người có hiểu biết, trình độ văn hóa, địa vị xã hội cao.
Vì vậy, tội phạm tham nhũng thường được xếp vào loại tội phạm của các đối tượng cô cồn trang — những người lao động bang trí óc. Tham nhũng thường được thực hiện dé thu lợi cá nhân, người được thụ hưởng lợi ích từ tham nhũng có thé là chính người thực hiện hành vi những cũng có thé là những người thân thích có liên quan đến người thực hiện hành vi tham nhũng. Tham nhũng là hành vi có tính chất vụ lợi, người tham nhũng thực hiện hành vi với ý đồ rõ rang về việc thu được các lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Lợi ích vật chat của tham nhũng có thé bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá còn lợi ích tinh thần thường là những thứ không dễ quy đổi ra tiền như tình dục, sự phân biệt đối xử có tính ưu ái, thiện vị cho một đối tượng khi thực thi công vụ, cung cấp dịch vụ công, băng khen, cơ hội hoc tập va công tác tại nước ngoài v.
Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế bắt đầu công bé chỉ số nhận thức tham nhũng (Chỉ số CPI) hàng năm trên toàn thế giới - là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hàng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia va vùng lãnh thé. Chi số CPI được đánh giá dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia về tham nhũng trong khu vực công, sử dung dit liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới (WB), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), rủi ro tư nhân, các công ty tư van và các tổ chức, thé chế khác; xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ theo mức độ nhận thức về tham nhũng trong khu vực công, xét trên thang điểm 0-100 (rong đó điểm 0 thể hiện mức độ cảm nhận tham những cao nhất và 100 là mức độ cảm nhận tham những thấp nhất (rat minh bach/ “rất sạch”). Điềm số phản ánh quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh về tình trạng tham nhũng ở quốc gia được đánh giá (được đánh giá về mức độ tham nhũng bằng điểm số CPI). Điểm số càng cao có nghĩa là quốc gia đó càng minh bach và ít tệ nạn tham nhũng hơn so với những nước khác.
Mặc dù chỉ số này là chỉ số chung nhưng những nỗ lực PCTN của ngành BHYT là một phần của chính sách PTCN chung của cả nước, góp phần tạo nên kết quả CPI tổng hợp chung của Việt Nam. Bảng xếp hạng Cảm nhận tham nhũng (CPI) trên toàn cầu do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố cho thấy: trong những năm gan đây (2015, 2016, 2017, 2019, 2021, 2022), CPI của Việt Nam đã có xu hướng cải thiện theo hướng tích cực. Trong năm 2014, Chỉ số cảm nhận tham những của Việt Nam nam ở vi trí thứ 31/100, được xếp hạng một tram mười chín trên tổng số một trăm bảy mươi năm quốc gia và vùng lãnh thổ. Thứ hạng của Việt Nam cho thấy tham nhũng van là một vấn đề cấp bách và nghiêm trọng, có ảnh hưởng lớn dé hệ thống chính trị Việt Nam.
Năm 2015, mặc dù chỉ số CPI của Việt Nam vẫn là mức 31/100, nhưng thứ hạng đã có sự cải thiện rõ hơn, xếp hạng 112/168 quốc gia, vùng lãnh thé. Năm 2020, Việt Nam dat ba mười sau điểm trên tổng điểm là 100, kết quả này đã giảm 1 điểm so với năm 2019 và đứng thứ một trăn lẻ 4 trên tổng số một trăm tam mươi quốc gia được đánh giá. Năm 2021, chỉ số CPI của Việt Nam là 39/100 điểm, tăng 3 điểm từ mức 36/100 điểm năm 2020, xếp thứ 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2022, chỉ số CPI của Việt Nam là 42/100 điểm, xếp hạng 77/180 quốc gia và vùng lãnh thỏ, tăng 3 điểm và 10 bậc so với khảo sát năm 2021 và tăng 27 bậc so với năm 2020; cũng là chỉ số CPI cao nhất và vị trí hiện tại cũng thể hiện thứ hạng cao nhất, cho thấy sự cải thiện rõ mà Việt Nam đạt được trong suốt giai đoạn 2012-2022 (Hoài Phương, 2023).
Trước đó, chỉ số CPI của Việt Nam đều được cải thiện, nhưng khá chậm, từ mức thấp nhất là 30 điểm (năm 2012), sau 10 năm, đã thăng hạng lên 39 điểm trong năm 2021 và tiếp tục lên 42 điểm trong năm 2022. Điều này phản ánh tiến bộ rõ nét, thé hiện quyết tâm PCTN mạnh mẽ của Việt Nam và là sự ghi nhận kết quả các nỗ lực của Dang và Nhà nước Việt Nam trong việc day mạnh công tác PCTN, đặc biệt là việc truy tố, xét xử hàng loạt vụ án tham nhũng lớn. Bảng 1: Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam trong giai đoạn 2002-2011 Năm | 2002 |2003 |2004 |2005 |2006 |2007 | 2008 |2009 |2010 |2011 Chỉ |24 24 26 26 26 26 27 27 27 29 số Hạng | 85/102 | 100/133 | 102/145 | 107/158 | 111/163 | 123/179 | 121/180 | 120/180 | 116/178 | 112/182 Bang 2: CPI Viét Nam trong giai doan 2012-2022 Nam 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 31/100 | 31/100 | 31/100 | 31/100 | 33/100 | 35/100 | 33/100 | 37/100 | 36/100 | 39/100 | 42/100 123/176 | 116/177 | 119/175 | 112/168 | 113/176 | 107/180 | 117/180 | 9180 | 104/180 | 87/180 | 77/180 b) Đặc điểm 10 Khoản 1, Điều 3 Luật PCTN 2018 định nghĩa về tham nhũng: "Tham những là hành vi của người có chức vu, quyên hạn đã lợi dụng chức vụ, quyên hạn do vi vụ lợi”. Theo đó, hành vi tham nhũng phải bao gồm đồng thời ba dấu hiệu đặc trưng sau: Thứ nhất, Chủ thé tham những phải là người có chức vụ, quyền hạn Đây là một điểm mới của Luật PCTN năm 2018 so với Luật PCTN 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012.
Các chủ thé tham nhũng được mở rộng, không còn giới hạn trong phạm vi khu vực công (khu vực nhà nước), Luật PCTN năm 2018 còn dé cấp đến những chủ thé tham nhũng ngoài khu vực nhà nước (Người đại diện phan vốn nhà nước tại doanh nghiệp; người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức). Thứ hai, Chi thé tham những lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao Sử dụng quyền thé và chức vụ là đặc điểm thứ hai của hành vi tham những. Trong quá trình thực hiện hành vi tham những, người tham nhũng can tận dụng "vi trí và quyền hạn của ho" như một công cụ để vi phạm luật pháp và đạt được lợi ích cá nhân, dành cho họ, gia đình hoặc người khác. Nếu không có quyên thé và chức vụ nay, họ sẽ không thé thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc gặp khó khăn trong việc thực hiện nó.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có yếu tố lợi dụng chức vụ và quyền han khi người có chức vụ và quyền hạn vi phạm pháp luật. Trường hợp này xảy ra khi người sở hữu quyền thế và chức vụ, nhưng hành vi vi phạm không liên quan đến việc tận dụng quyền thế và chức vụ của họ. Chăng hạn, một viên chức thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cá nhân hoặc của một tổ chức khác. Hành vi trộm cắp tài sản và chức vụ của họ không có sự kết nối trong tình huống này.
Hành vi trộm cắp tài sản có thé bị thực hiện bởi bất kỳ người nào, dù có quyền thé và chức vụ hoặc không, và quyền thế và chức vụ của họ không liên quan đến việc quản lý hoặc bảo vệ tài sản. Vì vậy, nếu người đó không tận dụng quyền thế và chức vụ của mình trong việc thực hiện hành vi nay, thì hành vi đó không được coi là tham nhũng. Thứ ba, Người thực hiện hành vi tham những phải có mục dich, động cơ vụ lợi 11 Vụ lợi là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền han đã đạt được hoặc có thé đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Hanh vi tham nhũng là hành vi cố ý.
Dé đánh giá mức độ và tinh chất của hành vi tham nhũng, ta thường dựa vào việc xác định những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được, va từ đó quyết định cách xử lý tương ứng. Tuy nhiên, trong môi trường thị trường hiện nay, lợi ích vật chat có thê xuất hiện đưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu chúng ta chỉ dựa vào việc phát hiện hoặc thu hồi tài sản để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng thu được, thì sẽ là một góc nhìn hạn chế. Hơn nữa, việc phân biệt giữa các lợi ich vật chất và tinh thần có thé rất khó khăn do chúng thường gan liền và tương hỗ nhau.
Đối với lĩnh vực tư nhân, pháp luật đã có các quy định cụ thể để điều chỉnh hành vi tham nhũng.